HIỂU ĐỂ SỐNG ĐỨC TIN

TẠI SAO VÍ ĐỨC MARIA NHƯ MẶT TRĂNG?

Lm. Phan Tấn Thành, O.P.

Trong những năm gần đây, tại Việt Nam một bài thánh ca kính Đức Maria càng ngày càng trở nên phổ thông, bắt đầu bằng những lời “như một vầng trăng tuyệt vời”. Tại sao lại ví Đức Maria với vầng trăng?

Tôi không rõ tác giả của bài “như một vầng trăng” lấy cảm hứng từ đâu. Còn có một bài thánh ca khác lưu hành từ 30 năm nay “Kìa bà nào đang tiến lên như rạng đông, đẹp như mặt trăng, rực rỡ như mặt trời”. Thực ra câu này là tiền xướng của bài Magnificat mà các hội viên Legio Mariae đọc hằng ngày, trích từ Diễm Ca 6,10. Ngoài ra, nhiều bức hoạ vẽ Đức Maria với một vầng trăng ở dưới chân. Dĩ nhiên, chủ đề này có một nguồn cảm hứng khác, trích từ sách Khải Huyền. Dù sao, chắc bạn đã biết: mặt trăng là một đề tài của nhiều thi sĩ, nhiều điển tích bình dân, cũng như trong nhiều tôn giáo. Thí dụ mặt trăng là biểu hiệu của Hồi Giáo cũng tựa như thập giá là biểu hiệu của Kitô Giáo. Các học giả đã bàn khá nhiều tới các ý nghĩa biểu tượng của mặt trăng. Trước tiên, nó là biểu tượng của phụ nữ. Trong các ngôn ngữ Âu Châu (thí dụ Hy-lạp, La-tinh, Pháp...), các danh từ gồm có giống đực và giống cái. Mặt trăng thuộc về giống cái và mặt trời thuộc về giống đực. Tuy rằng văn phạm tiếng Việt không có sự phân biệt đó, nhưng chúng ta vẫn gắn mặt trăng với phụ nữ: chị Hằng, bà Nguyệt, đối lại với ông mặt trời. Tại sao vậy? Có lẽ mặt trăng tượng trưng cho nhiều đức tính của phụ nữ, đặc biệt là tính hiền dịu: ta không cần phải đội nón che ô khi gặp ánh trăng; thậm chí ta còn có thể ngắm trăng nữa, một điều mà chúng ta không dám làm khi gặp mặt trời. (Riêng các phụ nữ thì họ còn được gắn liền với mặt trăng qua vòng kinh nguyệt!). Sự hiền dịu của mặt trăng kèm theo sự bẽn lẽn, nũng nịu, khi ẩn khi hiện sau đám mây, khi tròn khi méo. Thần thoại Hy-lạp nói tới mặt trăng liền với mặt trời: Selene với Elio. Thời kỳ trăng khuyết thì được cắt nghĩa là nàng đi ăn nằm giao hợp với mặt trời, rồi sau đó đẻ con, nghĩa là ánh sáng rực rỡ của đêm rằm. Sau đó trăng kiệt lực tàn tạ, lại phải trở về lấy sinh lực. Nói theo kiểu khoa học đời nay, thì trăng ví như pin; chạy một hồi hết năng lực thì phải đi “sạc” để có thể sáng tiếp. Ngoài những thần thoại giải thích các hiện tượng thiên văn, chúng ta cần phải nhắc tới các tôn giáo thờ mặt trăng, chẳng hạn bên Ai cập, thì người ta thờ thần mặt trăng Isidis, vợ của Osiris.

Còn trong Kinh Thánh thì sao?

Chúng ta thấy Kinh Thánh nói tới mặt trăng dưới nhiều khía cạnh. Tiên vàn các ngôn sứ trong Cựu Ước đã cực lực bài trừ những phong tục tôn thờ mặt trăng, thí dụ như đoạn sách Đệ-nhị-luật 4,19; 17,3-5; 2Vua 23,5. Đối lại, các tác giả nhấn mạnh rằng mặt trăng chỉ là một tinh tú được Chúa dựng nên, để phân định thời gian. Điều này không những đã được khẳng định ở đầu sách Sáng Thế mà còn được lặp lại trong nhiều Thánh Vịnh, thí dụ: Tv 104, 19: “Chúa đặt vầng trăng để đo thời tiết, dạy mặt trời biết lặn đúng thời gian”. Tv 136,7-9: “Chúa đã làm những đèn trời to lớn: cho thái dương điều khiển ban ngày.. đặt trăng sao hướng dẫn ban đêm”. (xc.121,6). Có lẽ vì sợ rơi vào việc thờ ngẫu tượng cho nên Cựu Ước rất ít khi dùng trăng làm biểu tượng. Chúng ta đọc trong sách Sáng Thế chương 37 câu 9, thuật lại giấc mơ của tổ phụ Giuse, trong đó ông thấy mặt trời mặt trăng và 11 ngôi sao thờ lạy mình. 11 ngôi sao là 11 người anh em; mặt trời mặt trăng ám chỉ cha mẹ. Mặt trăng tượng trưng cho bà mẹ. Còn một đoạn văn nữa đã để lại âm hưởng trong văn chương Kitô Giáo giáo là đoạn sách Diễm Ca 6,10 mà tôi đã nói ở đầu: “kìa bà nào đang tiến lên như rạng đông, đẹp như mặt trăng”. Trăng là biểu hiệu của sự diễm lệ, tuy rằng nguyên bản Do Thái không nói tới “đẹp như trăng” mà là “sáng như trăng”, theo một sự so sánh tuần tự: từ khi còn lấp lánh lúc hừng đông, rồi sáng thêm tí nữa như trăng và sau cùng rạng rỡ như mặt trời chính ngọ (xc. Is 24,23; 30,26).

Tân Ước có thêm điều gì mới so với Cựu Ước không?

Đối với người Do Thái, thì nguy cơ thờ mặt trăng không còn nữa. Tuy nhiên trên bước đường truyền giáo cho dân ngoại, hình như Thánh Phaolô đã gặp những người tuy chưa đến nỗi thờ mặt trăng nhưng ít lã cũng mê tín, kiêng cữ dựa theo sự vận chuyển của trăng sao. Ta có thể nhận ra vết tích của tục lệ đó khi đọc thư Galat 4,10 (“Sao mà anh em còn phải giữ ngày lành tháng tốt, mùa hung năm hên”) và Colosê 2,16: “Mong sao cho đừng có ai kết án anh em vì chuyện ăn uống, việc tuân giữ các lễ hội, các dịp trăng non trăng già, các ngày sabat”). Dù sao thì Tân Ước không nói nhiều tới trăng. Có lẽ có một đoạn để lại ấn tượng sâu xa hơn cả trong nghệ thuật Kitô Giáo là hình ảnh của một phụ nữ khoác mặt trời, chân đạp mặt trăng, và đầu đội triều thiên 12 ngôi sao, nói ở chương 12 của sách Khải Huyền. Ý nghĩa của các biểu tượng này không được rõ cho lắm. Có nhà chú giải cho rằng nó chỉ là lối nói chịu ảnh hưởng của sách Diễm Ca 6,10. Có người lại cho rằng hình ảnh mặt trời và mặt trăng nhằm nói lên sự trường tồn vạn kỷ của việc Thiên Chúa trung tín với giao ước dành cho dân của Người, dựa theo Thánh Vịnh 89,37-38 (“trước mặt Ta, ngai báu Người bền vững tựa thái dương, muôn đời kiên cố như vầng nguyệt”).

Nếu Tân Ước đã ít nói tới mặt trăng thì chắc là lại càng không có chuyện ví Đức Maria như mặt trăng, phải không?

Như vừa nói, tuy rằng có những hoạ sĩ đã áp dụng đoạn văn Khải Huyền cho Đức Maria khi hoạ người với mặt trăng ở dưới chân, nhưng đó không phải là ý tưởng nguyên sơ của sách Khải Huyền. Cần thêm rằng không những là Tân Ước đã không gắn biểu tượng mặt trăng cho Đức Maria, mà kể cả các giáo phụ cũng vậy. Trong những thế kỷ đầu của Kitô Giáo, sau khi đã bài trừ tục lệ thờ mặt trăng, các giáo phụ bắt đầu sử dụng hình ảnh đó làm biểu tượng cho Hội Thánh. Khuynh hướng này được nổi bật ở trường phái Alexandria (Ai cập) với Origène, và hai giáo phụ La-tinh Augustinô, Ambrôsiô. Các vị đối chiếu Hội Thánh với Đức Kitô, tương tự như mặt trăng với mặt trời: Hội Thánh lệ thuộc vào Đức Kitô là mặt trời. Hội Thánh nhận lãnh ánh sáng từ mặt trời là Đức Kitô để phản chiếu xuống cho chúng ta qua lời giảng và các bí tích. Hơn thế nữa, mặt trăng không trơ trơ bất động, nhưng luôn luôn xê dịch: nó biểu lộ cho hôn thê khao khát muốn được gặp gỡ bạn mình. Những đêm tối trời (mà thần thoại hy lạp cắt nghĩa là nàng trăng đi sạc điện) thì được Origène ví như nỗi mong chờ ngày quang lâm của Đức Kitô. Origène cũng áp dụng nhận xét về Hội Thánh vào đời sống thiêng liêng của mỗi linh hồn. Linh hồn nào cũng có lúc cảm thấy những đêm tối tăm, không có ánh sáng: đó là giai đoạn mà Thiên Chúa thử luyện thanh tẩy ta, ngõ hầu ta sẽ được sáng sủa rực rỡ hơn trong ngày sống lại với Đức Kitô. Thánh Ambrôsiô và Augustinô thích dùng chu kỳ của mặt trăng để nói tới những gian truân thử thách của linh hồn. Các đấng coi đó như cơ hội để các Kitô hữu tham dự vào mầu nhiệm Vượt Qua của Đức Kitô. Như Đức Kitô đã có lúc chết và an táng trong mồ trước khi Phục Sinh thế nào, thì các tín hữu cũng hãy chấp nhận tàn khuyết, chết cho tội lỗi và ích kỷ, an táng trong mồ, ngõ hầu mai ngày sẽ chỗi dậy rực rỡ như trăng rằm.

Từ lúc nào hình ảnh mặt trăng được áp dụng cho Đức Maria?

Các giáo phụ ít khi nói tới Đức Maria như mặt trăng. Cách riêng, các giáo phụ hiểu người phụ nữ đạp mặt trăng theo sách Khải Huyền là chính Hội Thánh, đang đau đớn trong việc sinh ra Đức Kitô trong thế giới. Khi muốn nói tới Đức Maria như người phụ nữ tiêu biểu, thì các giáo phụ áp dụng đoạn văn ở đầu Sách Sáng Thế (Đức Maria như bà Eva mới), chứ không nại tới sách Khải Huyền.

Sang tới thời Trung Cổ, người ta mới thấy khuynh hướng ví Đức Maria như mặt trăng. Những gì mà các giáo phụ đã nói về Hội Thánh thì dần dần được các nhà thần học Trung Cổ chuyển sang cho Đức Maria, thí dụ thiếu nữ Sion, thành Giêrusalem, phụ nữ đạp dập đầu con rắn. Tuy nhiên để tránh hiểu lầm chúng ta nên lưu ý một chi tiết sau đây, đó là nhiều tác giả hay hoạ sĩ không ví Đức Maria như mặt trăng, mà là họ đặt Đức Maria đứng ở trên mặt trăng, (đạp mặt trăng). Mặt trăng tượng trưng cho các bè rồi, hay các tội lỗi nói chung. Đức Mẹ với mặt trăng ở dưới chân tượng trưng tín điều Vô Nhiễm Nguyên Tội.

Còn sự ví Đức Mẹ như mặt trăng, ngoài ý nghĩa mỹ lệ của sách Tình Ca, ta thấy có một ý nghĩa được Thánh Louis Marie Grignon de Montfort trình bày trong sách “Thành thực sùng kính Đức Mẹ Maria” (số 85). Tác giả viết như sau: “Đức Maria không phải là mặt trời làm lóe mắt, nhưng là trăng thanh mỹ miều và êm dịu. Người thu nhận ánh sáng từ mặt trời Thiên Chúa và, thích nghi với những khả năng của ta”. Hình ảnh mặt trăng được đối chiếu với mặt trời. Mặt trăng tự nó chẳng có ánh sáng, nhưng thu nhận ánh sáng từ mặt trời để soi chiếu xuống dương gian. Ánh sáng của trăng mát dịu. Hình ảnh này được dùng để nói tới vai trò trung gian của Đức Maria: qua Mẹ để đến cùng Chúa Giêsu. Dù sao trong tác phẩm này, tác giả chỉ một lần ví Đức Maria với mặt trăng. Một hình ảnh cổ điển được tác giả sử dụng nhiều hơn, đó là ngôi sao: hoặc là “sao mai” báo trước mặt trời sắp ló dạng; hay là “sao biển” giúp cho người thủy thủ định hướng đi về tới bến (xem các số 55. 199. 209: Maris stella. S. Bernardus, Hom. 2 super Missus est, n.17: PL 183,700).

Tuy vậy, tác giả cũng dùng hình ảnh mặt trăng theo một nghĩa xấu áp dụng cho những người thiếu kiên trì trong các việc đạo đức. Ở số 101, tác giả viết: “Có những linh hồn khi thì sốt sắng khi thì nguội lạnh; lúc thì sẵn sàng làm hết mọi việc đạo đức, lúc thì chẳng làm gì hết. Họ ghi danh làm hội viên các hiệp hội mà chẳng tuân giữ thủ bản của các hội đó. Họ thay đổi như mặt trăng; và vì thế Đức Maria đặt họ dưới chân, bởi vì họ không xứng đáng làm tôi trung của Mẹ”. Tư đó thánh nhân kết luận: vì thế, thay vì đọc cho thật nhiều kinh kệ, thì tốt hơn ta hãy đọc ít nhưng mà với tình yêu mến và trung thành, không bỏ qua cho dù bị tấn công bởi thế gian, xác thịt, ma quỉ.