HIỂU ĐỂ SỐNG ĐỨC TIN

TRONG CÁC LỄ KÍNH ĐỨC MẸ QUANH NĂM, LỄ NÀO TRỌNG NHẤT?

Lm. Phan Tấn Thành, O.P.

Lịch phụng vụ dành rất nhiều lễ kính Đức Mẹ trong năm nhưng lễ nào lớn nhất?

Có nhiều cách đặt câu hỏi và có nhiều cách trả lời. Có thứ câu hỏi dựa theo cảm tình chủ quan, có thứ câu hỏi dựa theo thứ tự lịch sử, có thứ câu hỏi dựa theo tầm quan trọng đạo lý. Xem ra câu hỏi dựa theo cảm tình dễ trả lời hơn cả, bởi vì tuỳ theo sở thích của mỗi người, vì thế xin miễn bình luận.

Trong một năm có rất nhiều lễ kính Đức Maria, nhưng những người mang tên thánh Maria sẽ chọn một ngày nào đó dựa trên lòng sùng kính đặc biệt của cá nhân hoặc của địa phương. Xin lấy một thí dụ: những người sống ở Tây ban nha sẽ mừng tên thánh Maria vào ngày 8 tháng 9 (lễ sinh nhật Đức Mẹ), trừ khi những ai mang tên là Maria Pilar thì mừng vào ngày 12 tháng 10 (lễ kính ngôi đền nổi tiếng ở thành phố Zaragoza). Bên Pháp, những người mang tên thánh Maria mừng lễ bổn mạng ngày 15 tháng 8 (cũng là ngày bổn mạng của quốc gia nữa). Bên Ý, người ta mừng vào ngày 12 tháng 9 (kính danh thánh Đức Mẹ) hoặc ngày 8 tháng 12 (lễ Đức Mẹ vô nhiễm). Tôi biết có mấy nữ tu mừng ngày 21 tháng 11, lễ Đức Mẹ dâng mình vào đền thờ. Dĩ nhiên đối với đương sự, thì ngày lễ mà họ chọn làm bổn mạng được coi là quan trọng nhất.

Còn đối với phụng vụ thì sao?

Lịch phụng vụ cũng mang tính cách tương đối. Có thể là một lễ được mừng long trọng tại địa phương nhưng lại không quan trọng trong lịch phổ quát. Một thí dụ: lễ Đức Mẹ Lộ Đức hay Đức Mẹ Fatima sẽ được mừng trọng thể tại những thánh điện địa phương, nhưng trong lịch phổ quát thì chỉ là lễ nhớ. Sau công đồng Vaticanô II, lịch phụng vụ cải tổ đã xếp các lễ thành bốn cấp:

  1. Cấp một là lễ Trọng (Solemnitas: có nghĩa là trọng thể),
  2. Cấp hai là lễ Kính (Festum: có nghĩa là lễ mừng),
  3. Cấp ba là lễ Nhớ (Memoria), với hai cấp độ: lễ nhớ bắt buộc và lễ nhớ nhiệm ý.

Chúng ta thấy các lễ Đức Mẹ được phân phối trong tất cả bốn cấp ấy. Có 4 lễ trọng: Thiên Chúa Thánh Mẫu, Truyền Tin, Mông Triệu (Hồn Xác Lên Trời), Vô Nhiễm Nguyên Tội; 3 Lễ kính: Dâng Con Vào Đền Thờ, Thăm Viếng, Sinh Nhật; 5 lễ nhớ bắt buộc: Mẫu Tâm, Nữ Vương Vũ Trụ, Đau Khổ, Mân Côi, Dâng Mình Vào Đền Thờ; 4 lễ nhớ nhiệm ý: Lộ đức, Fatima, Carmel, Cung Hiến Đền Thờ Đức Bà.

Như vậy trong lịch phụng vụ hiện hành, đứng đầu danh sách là bốn lễ trọng: Thiên Chúa Thánh Mẫu, Truyền Tin, Mông Triệu, Vô Nhiễm Nguyên Tội. Có thể xếp thứ tự ưu tiên trong bốn lễ này không?

Tôi nghĩ là có thể được, nhưng dựa theo tiêu chuẩn nào thì lại là chuyện khác. Tôi xin lấy một thí dụ để so sánh. Trong năm phụng vụ có hai lễ quan trọng nhất, đó là lễ Chúa Giáng Sinh và lễ Chúa Phục Sinh. Thử hỏi: lễ nào đứng ưu tiên? Chắc chắn là sẽ có hai ý kiến, và bên nào cũng có lý do của mình. Xét về lịch sử thì lễ Phục Sinh có trước, vì đã được mừng ngay từ những thế kỷ đầu tiên của Kitô Giáo, còn lễ Giáng Sinh thì mới xuất hiện từ thế kỷ IV. Nhưng trên thực tế, vào lễ Giáng Sinh người ta đứng chật cứng nhà thờ, còn lễ Phục Sinh thì lơ thơ. Ngoài ra một số giáo phụ Đông Phương cho rằng công cuộc Cứu Chuộc bắt đầu ngay từ mầu nhiệm Nhập thể: Con Thiên Chúa đã kết hiệp với loài người, để nâng loài người lên làm Con Thiên Chúa. Ta cũng có thể nói như vậy về bốn lễ trọng của Đức Mẹ. Lễ Thiên Chúa Thánh Mẫu có thể coi như tước hiệu cao trọng nhất của Đức Maria, nhưng đồng thời cũng là lễ của Chúa Giêsu, được mừng tám ngày sau lễ Chúa Giáng Sinh. Còn lễ Truyền Tin thì được coi như là lễ của Chúa Giêsu hơn là lễ của Đức Maria, bởi vì là lễ mừng mầu nhiệm Thiên Chúa làm người, thụ thai trong lòng Đức Maria, 9 tháng trước lễ Giáng Sinh.

Như vậy chỉ còn hai lễ trọng dành riêng cho Đức Maria: lễ Mông Triệu và lễ Vô Nhiễm Nguyên Tội. Trong hai lễ đó, lễ nào trọng hơn?

Tuỳ theo cách nhìn. Ngày nay nhiều người móc nối hai lễ này với hai tín điều liên quan đến bản thân Đức Maria. Tín điều Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội được đức Piô IX công bố ngày 8/12 năm 1854. Tín điều Đức Maria hồn xác lên trời được đức Piô XII công bố ngày 1/11/ 1950. Như vậy lễ phụng vụ là một hình thức tuyên xưng và cử hành đức tin. Tuy nhiên ta có thể nhìn hai lễ này dưới một phương diện khác, liên quan đến cuộc đời dương thế của Đức Maria. Lễ Vô nhiễm nguyên tội kính nhớ việc người được thụ thai trong lòng mẹ, nghĩa là bắt đầu cuộc sống con người. Còn lễ Mông Triệu kính nhớ việc kết thúc cuộc sống trần thế. Do đó, hai lễ này đánh dấu lúc bắt đầu và lúc kết liễu cuộc sống trần gian.

Hiểu như vậy, thì lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm phải xếp lên trên lễ Đức Mẹ Lên Trời, phải không?

Tuỳ theo cái nhìn của mỗi người. Ngày nay, nhiều nơi có thói tục mừng ngày sinh nhật. Còn ngày qua đời thì không ai mừng mà chỉ khóc thôi. Tuy nhiên ta thấy truyền thống Kitô Giáo thì khác: lịch phụng vụ mừng các thánh vào ngày họ qua đời, và được gọi là sinh nhật (dies natalis), nghĩa là ngày sinh vào cuộc sống vĩnh cửu. Nên biết là phụng vụ chỉ mừng lễ chào đời của ba vị mà thôi: Chúa Giêsu, Đức Mẹ và Thánh Gioan Tiền Hô; còn những vị thánh khác thì được mừng vào ngày qua đời. Đây không phải là ngày buồn thảm nhưng là ngày hoan hỉ, bởi vì đương sự đã chấm dứt cuộc lữ hành, và bây giờ họ được hưởng hạnh phúc bên Chúa.

Kết luận, khách quan mà nói, lễ Đức Mẹ Lên Trời là ngày quan trọng nhất, phải không?

Câu kết luận tùy theo tiêu chuẩn thần học, cũng như lúc nãy khi so sánh giữa lễ Chúa Giáng Sinh và lễ Phục Sinh. Tuy nhiên, tôi nghĩ còn một cách thứ ba để bàn về các lễ của Đức Mẹ, đó là xét theo thứ tự thời gian ra đời. Ở đây chúng ta chỉ nói đến các lễ dành riêng cho Đức Mẹ mà thôi chứ không nói đến các lễ của Chúa Giêsu kèm theo Đức Mẹ, chẳng hạn như lễ Truyền Tin và lễ Giáng Sinh. Theo các sử gia, thì lễ cổ xưa nhất kính Đức Mẹ là ngày 15 tháng 8, được cử hành tại Giêruralem từ cuối thế kỷ V, tại nhà thờ được cất lên ở trên mộ của người. Bên các giáo hội Đông Phương, lễ 15/8 được gọi là lễ Đức Mẹ An Giấc (Dormitio). Một thế kỷ sau, nghĩa là vào cuối thế kỷ VI, cũng tại Giêsuralem, một ngôi thánh đường được cất bên cạnh bờ giếng Betsaida, nơi mà một người bất toại được chữa lành (theo Tin Mừng Thánh Gioan chương 5), và tại đây người ta mừng lễ sinh nhật Đức Mẹ vào ngày 8/9. Cũng vào thời kỳ này, một ngôi nhà thờ khác được cất bên cạnh đền thờ và nhân dịp lễ cung hiến vào ngày 20/11/543, người ta cử hành lễ Đức Mẹ dâng mình vào đền thờ. Dần dần, ba lễ nữa được thêm vào, đó là lễ chúc mừng Đức Mẹ (ngày 26/12, tiếp theo lễ Chúa Giáng Sinh), lễ Truyền Tin (9 tháng trước lễ giáng sinh), và lễ dâng Chúa vào đền thờ (2/2): ba lễ này liên quan đến mầu nhiệm nhập thể.

Như vậy, nguồn gốc các lễ kính Đức Mẹ bắt đầu từ Giêrusalem phải không?

Theo các sử gia thì phải kết luận như vậy. Tuy nhiên, tại Rôma cũng đã có một lễ kính Đức Mẹ từ thế kỷ V, đó là nhân dịp lễ cung hiến đền thờ kính Đức Mẹ được cất một năm sau khi bế mạc công đồng Ephêsô (năm 431). Tại đây người ta mừng lễ Đức Mẹ sinh con vào ngày 1 tháng giêng (bát nhật lễ giáng sinh). Phải đợi đến cuối thế kỷ VII, dưới thời đức giáo hoàng Sergio I (687-701) thì mới du nhập 4 lễ của Đông Phương, đó là các lễ dâng Con (2/2), Truyền Tin (25/3), An Giấc (15/8) và Sinh Nhật (8/9). Cho đến thế kỷ XIV, phụng vụ Rôma chỉ có 5 lễ kính Đức Mẹ mà thôi, nhưng từ đó đến nay con số tăng lên dần, trong lịch phổ quát cũng như trong lịch địa phương, gắn liền với nhiều động lực khác nhau. Năm 1389, đức Urbanô VI lập lễ Đức Mẹ Thăm Viếng vào ngày 2/7 (ngày nay chuyển lên ngày 31 tháng 5 cho hợp lý, bởi vì lễ Thăm Viếng phải được đặt trước lễ sinh nhật Thánh Gioan Tiền Hô ngày 24/6). Năm 1440, đức giáo hoàng Sixtô IV thiết lập lễ Đức Mẹ Được Thụ Thai (nguồn gốc lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội) mừng vào ngày 8/12. Từ năm 1568, lễ cung hiến nhà thờ Đức Bà Cả được mừng vào ngày 5/8 dưới thời đức Piô V, vị giáo hoàng được an táng trong thánh đường này. Đức Piô V cũng là người thiết lập lễ Mân Côi, nhưng phải chờ đến năm 1716 mới được mở rộng ra toàn Giáo hội. Thế kỷ XVII được đánh dấu với hai lễ: kính danh Đức Maria và Đức Mẹ Chuộc Kẻ Làm Tôi. Thế kỷ XVIII thêm lễ kính Đức Mẹ Sầu Bi (năm 1727). Thế kỷ XX thêm nhiều lễ hơn hết: lễ Đức Mẹ Lộ-đức (1907), Thiên Chúa Thánh Mẫu (năm 1931, kỷ niệm 1500 năm công đồng Ephêsô, được mừng vào ngày 11 tháng 10, sau công đồng Vatican được dời lên ngày 1/1), lễ kính Mẫu Tâm (năm 1943), lễ Đức Maria Nữ Vương (năm 1954, kỷ niệm 100 năm tuyên bố tín điều Vô Nhiễm Nguyên Tội). Sau cùng là lễ Đức Mẹ Fatima dưới thời đức Gioan Phaolô II. Nhìn lại các lễ kính Đức Mẹ nói chung, chúng ta thấy có ba lý do chính: thứ nhất, kính nhớ các chân lý đức tin Kitô Giáo (những lễ này được mừng ở cấp lễ trọng); thứ hai, kính nhớ những biến cố cứu độ trong cuộc đời Đức Maria (những lễ này được mừng ở cấp lễ kính). Phần còn lại là những lễ do lòng đạo đức bình dân, không dựa trên một biến cố của lịch sử cứu độ, nhưng nảy lên do một tước hiệu mang tính thần học hoặc gắn liền với một lòng sùng kính riêng tư (chẳng hạn kinh Mân Côi, áo Đức Bà, những nơi Đức Mẹ hiện ra.