Một trong những sự kiện chắc chắn nhất được ghi nhận trong các Phúc Âm là ông Gioan đã làm phép rửa cho Đức Giêsu. Tuy nhiên, mỗi Phúc Âm trình bày một ý nghĩa hay dẫn giải một cách khác nhau về sự kiện này.
Trong Ít-ra-en thế kỷ thứ nhất có hai mùa: mùa mưa (từ cuối tháng Chín cho đến cuối tháng Tư) và mùa khô (đầu tháng Năm đến đầu tháng Chín). Trong mùa mưa, người ta ở trong nhà. Trong mùa khô, người ta có thể đi ra ngoài và đi đây đó, một sinh hoạt rất quan trọng của người Địa Trung Hải. Dân chúng ở đó yêu thích xem xét và muốn được nhìn thấy. Về vấn đề này, Đức Giêsu và các môn đệ là những người Địa Trung Hải điển hình.
Sự kiện Đức Giêsu và những người khác có thể “nhúng người” trong sông Giođan, điều đó cho thấy bắt đầu mùa khô, khi sông Giođan và các dòng suối ngập tràn nước mưa mùa đông và mặt trời đã sưởi ấm các vùng nước cạn đến một nhiệt độ dễ chịu.
Trong Phúc Âm của Mátthêu, sứ vụ của Đức Giêsu kéo dài một mùa khô. Người từ trần trong lễ Vượt Qua, một ngày lễ mùa gặt hái được cử hành vào lúc khởi đầu mùa khô kế tiếp. Trong Phúc Âm Gioan, sứ vụ của Đức Giêsu bao trùm một giai đoạn ba mùa khô bởi vì Người đã làm ba cuộc hành trình lên Giêrusalem để mừng lễ Vượt Qua vào mùa xuân.
Trong Mátthêu, tiếng nói từ trời công bố: “Đây là Con yêu dấu của ta, ta rất hài lòng về người.” Không phải là tác giả phúc âm này đã đưa ra điểm này trong hai chương đầu Phúc Âm của mình hay sao?
Hãy nhớ rằng trong một xã hội mà vinh dự là động lực, người ta phải gầy dựng giá trị đó khi có cơ hội. Phả hệ của Đức Giêsu theo Mátthêu (khác với của Luca) đã đưa Người vào dòng dõi vinh dự của Abraham và Đavít. Vào lúc thành thai, Đức Giêsu có vinh dự vì nguồn gốc thần linh. Sự vâng phục cha mẹ của Đức Giêsu cũng vinh dự không kém. Toàn thể Phúc Âm của Mátthêu minh chứng sự nối tiếp của Đức Giêsu với Môsê, tổ tiên rất vinh dự của Người.
Trong phép rửa, một sự kiện công cộng được chứng kiến bởi mọi người có mặt, đích thân Thiên Chúa công bố một tương giao giữa cha và con, chủ và khách, với Đức Giêsu. Nếu không có sự tuyên bố công khai này, Đức Giêsu sẽ không thể khởi đầu sứ vụ của mình. Dù vậy, các người hàng xóm của Đức Giêsu vẫn hồ nghi: “Đây không phải là con của bác thợ mộc sao?... Ông ấy có được những điều này từ đâu?” ().
Từ những lúc ban đầu, các môn đệ của Đức Giêsu thấy bối rối khi Người chịu phép rửa của ông Gioan. Nói cho cùng, ông Gioan đã giải thích rằng phép rửa của ông là cho mục đích sám hối (). Vì cao trọng hơn Gioan, Đức Giêsu không cần phải sám hối.
Tường thuật của Mátthêu đưa ra hai giải thích để làm dịu bớt sự bối rối này. Điều thứ nhất thì phổ thông với cả ba tường thuật về phép rửa của Đức Giêsu, đó là, tiếng nói từ trời. Trong Sách Thánh Hebrew, tiếng này được gọi là “con gái của tiếng nói” (bat qol), đó là, tiếng “vang” của điều gì đó mà Thiên Chúa nói.
Chú giải Cựu Ước bằng tiếng Aramaic gọi là “Targums,” thường miêu tả một “tiếng từ trời” để giải thích những biến cố hồ nghi tỉ như ông Abraham định giết con trai Isaac (), hoặc tại sao các thiên thần trong giấc mơ của ông Giacóp () lại đi xuống thay vì đi lên theo truyền thống. Tiếng nói từ trời trong Mátthêu nói rằng Đức Giêsu chịu phép rửa vì Thiên Chúa muốn như vậy. Thiên Chúa hài lòng vì sự vâng phục của Đức Giêsu, mà nó cũng gợi ý là đến lượt Đức Giêsu cũng đáng được sự vâng phục của các môn đệ.
Giải thích thứ hai chỉ có trong Phúc Âm Mátthêu là Đức Giêsu cho rằng Người phải “chu toàn mọi sự chính trực.” Các học giả hiểu điều này có nghĩa là, cũng như nhiều người khác, Đức Giêsu bị hấp dẫn bởi danh tiếng của ông Gioan và đã đến gặp ông. Sau đó lời cổ vũ sám hối của ông Gioan đã tạo nên một thay đổi trong tâm hồn của Người, một sự hoán cải.
Đức Giêsu là một người thợ. Trong khi không có chứng cớ cho thấy Người lừa dối khách hàng, Người nhận ra những nguy cơ này khi hành nghề và chấp nhận lời mời gọi của ông Gioan là hãy “sinh hoa quả tốt”. Đức Giêsu chịu phép rửa để làm vui lòng Thiên Chúa. Một kết quả là Người trở nên môn đệ của ông Gioan và chia sẻ trong sứ vụ dìm người (Coi tường thuật về sứ vụ làm phép rửa của Đức Giêsu, và đoạn tương phản , truyền thống Kitô giáo sau này, mà nó đã từ chối điều đó.)
Với tín hữu Hoa Kỳ, thật sảng khoái dường nào khi biết rằng Đức Giêsu cũng phải khám phá ra căn tính của mình, phải phân định thánh ý của Thiên Chúa dành cho mình, và theo đuổi định mệnh của mình. Niềm tin của Đức Giêsu đã trợ giúp Người. Niềm tin của chúng ta đã giúp đỡ chúng ta như thế nào?