Đoạn phúc âm hôm nay diễn ra trong bối cảnh lịch sử của dân tộc Do Thái mà lúc bấy giờ họ đang trong tình trạng tuyệt vọng vì dường như lời Chúa hứa cứu chuộc họ đã tiêu tan – mười hai chi tộc Israel thì tản mác khắp nơi; dòng dõi nhà Đavít, mà Thiên Chúa hứa qua dòng dõi này Người sẽ thiết lập một Vương Quốc thì không còn nắm quyền – và người Do Thái đang làm nô lệ cho đế quốc La Mã, do đó ông Gioan Tẩy Giả đã sai các môn đệ của mình đến hỏi xem Đức Giêsu có phải là đấng sẽ đến hay họ còn phải đợi một người nào khác.
Câu hỏi này cho thấy dường như các hoạt động của Đức Giêsu không phải là điều dân chúng mong đợi. Có lẽ họ trông chờ một anh hùng dân tộc, dám đứng lên chống lại nhà cầm quyền La Mã bằng quân sự, chứ không chỉ làm phép lạ chữa lành bệnh tật và can đảm vạch trần sự giả dối của hàng tư tế, luật sĩ thời bấy giờ. Họ mong đợi một người lãnh đạo quân sự vì đó là điều được Ngôn Sứ Isaia tiên báo mà chúng ta nghe trong bài đọc 1, “Hãy nói với những kẻ nhát gan: ‘Can đảm lên, đừng sợ! Thiên Chúa của anh em đây rồi; sắp tới ngày báo phục, ngày Thiên Chúa thưởng công, phạt tội. Chính Người sẽ đến cứu anh em’.”
Đức Giêsu thấy được sự mong đợi đó, nhưng sự cứu độ của Người thì không như dân chúng nghĩ, do đó, Đức Giêsu cũng nhắc lại lời Ngôn Sứ Isaia nhưng chỉ có phần sau, “người mù xem thấy, kẻ què đi được, người cùi được sạch, kẻ điếc nghe được, người chết sống lại, và kẻ nghèo được nghe Tin Mừng”, chứ không nhắc đến việc báo phục, với hy vọng dân Do Thái sẽ hiểu rằng Người là Mêsia, Đấng thiên sai, nhưng sự cứu độ bằng tình thương chứ không phải hận thù.
Dĩ nhiên, họ không thể chấp nhận. Đức Giêsu thấy được điều đó và Người nói thêm lời chúc phúc, “Phúc cho ai không xúc phạm đến tôi” (“Blessed is the one who takes no offense at me” – NABRE Mt 11:6). Thực tế cho thấy họ đã đóng đinh Người trên thập giá và cho đến ngày nay, trong khi hầu hết toàn thế giới mừng ngày giáng sinh của Hoàng Tử Hòa Bình thì dân Do Thái mừng ngày Hannukkah, kỷ niệm việc tái thánh hiến đền thờ Giêrusalem sau một cuộc chiến giành lại được từ tay người Hy Lạp vào năm 165 trước khi Đức Giêsu sinh ra.
Lịch sử loài người cho thấy quy luật “mạnh được yếu thua” vẫn tồn tại cho đến ngày nay. Dường như đó là bản chất tự nhiên của con người. Nếu không có sự hướng dẫn của đạo giáo, hay sự kính sợ Thượng Đế, con người sẽ dễ chiều theo thú tính của mình trong cách đối xử với đồng loại. Chính khi đó, chúng ta mới hiểu được ý nghĩa của “tội nguyên thủy” (tội tổ tông), mà từ đó bản chất con người có xu hướng sống theo ý riêng của mình mà không muốn vâng phục thánh ý của Thiên Chúa.
Ngày nay đã hơn 2,000 năm sau khi Chúa Giêsu chu toàn sự cứu chuộc, chúng ta không còn chờ đợi Đấng Cứu Thế như dân Do Thái, chúng ta cũng đã thấy sự sụp đổ của nhiều đế quốc hùng mạnh trong lịch sử để tin rằng lời Chúa là chân lý: quy luật của sức mạnh chỉ đem lại sự chết, chỉ có quy luật của tình thương mới đem lại sự sống cho con người. Vậy trong mùa Vọng này chúng ta chờ đợi gì nơi Chúa Kitô?
Ngày xưa Chúa chữa người đui mù, ngày nay chúng ta không mù lòa về thể lý nhưng rất có thể chúng ta “mù lòa” về kiến thức trong đạo, chúng ta “mù lòa” về chân lý vì không muốn tìm hiểu những gì là đúng đắn và không muốn nhìn nhận những gì là sự thật. Những thiếu sót ấy sẽ đưa đến sự “mùa lòa” về chính bản thân, không thấy được những khuyết điểm của mình, và rồi chúng ta trở nên tự mãn, tự tôn, không muốn tôn trọng người khác, chúng ta sẽ có ác cảm với những người bất đồng quan điểm với mình.
Ngày xưa Chúa chữa người điếc, ngày nay chúng ta nghe được rõ ràng nhưng có thể chúng ta không muốn lắng nghe người khác, dù đó là những nhu cầu chính đáng của vợ/chồng, con cái hay những người dưới quyền mà nhiều khi đó là ý Chúa muốn thông đạt cho chúng ta.
Ngày xưa Chúa chữa người què quặt, ngày nay chúng ta không què quặt về thể lý nhưng chúng ta có muốn đi theo con đường ngay thẳng của Chúa hay không? Có thể vì ham mê của cải, thế lực chúng ta trở nên gian dối, thủ đoạn? Có thể vì ham mê xác thịt nên chúng ta vi phạm sự chung thủy trong hôn nhân?
Ngày xưa Chúa chữa người cùi hủi, ngày nay chúng ta không bị cùi hủi nơi thân xác, nhưng có thể chúng ta cần tẩy xóa những ô uế trong tâm hồn. Có thể đó là những âm mưu xấu xa, những lời bịa đặt để đề cao chính mình và hãm hại, vu khống người khác?
Ngày nay chúng ta không chết về thể xác nhưng có thể chết về đời sống tâm linh. Chúng ta theo đạo nhưng có thể những giảng dạy của Chúa chẳng có ảnh hưởng gì đến đời sống của chúng ta. Đgm. Fulton J. Sheen có nói, “Ngay cả một xác chết có thể trôi theo dòng sông, nhưng phải thực sự là một con người mới dám lội ngược dòng.” Khi theo Chúa Kitô, chúng ta phải có sự can đảm sống chân lý mà thường khi trái ngược với lối sống của người đời. Người đời thích được đề cao, thích được nêu công trạng, thành tích thì Chúa Giêsu lại kêu gọi sống khiêm tốn. Người đời tranh nhau chức quyền thì Chúa Giêsu lại kêu gọi phục vụ người khác. Thế gian mời mọc chúng ta hưởng thụ mọi sự giầu sang của nó thì Chúa Giêsu lại kêu gọi sống khó nghèo.
Gioan Tẩy Giả là một tấm gương cho chúng ta. Ông vững tin vào Thiên Chúa dù thấy đau khổ trước mắt. Ông không như lau sậy ngoài đồng hoang, ngả nghiêng theo các cơn gió thời đại mà không giữ vững lập trường. Ông chấp nhận một đời sống kham khổ, không xa hoa nhung lụa, không thủ đoạn chính trị, không ganh đua chức quyền như trong cung điện của các vua chúa trần gian để minh chứng rằng hạnh phúc Nước Trời thì có thật và xứng đáng với những hy sinh ở đời này. Vì thế ông đã được Chúa Giêsu đề cao là “trong số phàm nhân đã lọt lòng mẹ, chưa có ai cao trọng hơn Gioan Tẩy Già”.
Nhưng điều rất ngạc nhiên là ngay sau đó Chúa Giêsu lại nói, “kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời còn cao trọng hơn ông”!
Chắc chắn không ai trong chúng ta có thể sánh với Gioan Tẩy Giả. Tâm hồn chúng ta đầy những tham vọng, hận thù, và mê muội. Đời sống chúng ta có quá nhiều khuyết điểm, nếu không muốn nói là tội lỗi. Vậy làm thế nào chúng ta có thể vào được Nước Trời?
Có lẽ Chúa Giêsu muốn nói đến giá trị vô cùng cao quý của ơn cứu độ. Ngay cả một người tốt lành, thánh thiện như Gioan Tẩy Giả cũng không xứng với Nước Trời nếu Con Thiên Chúa không mặc lấy xác phàm để thay mặt cho loài người hòa giải với Chúa Cha bằng sự vâng phục cho đến chết. Đây là mầu nhiệm Nhập Thể của Chúa Giêsu. Thiên Chúa có thể cứu loài người bằng nhiều cách khác dễ dàng hơn, nhanh chóng hơn, nhưng Người đã chọn một con đường gian khổ, nhục nhã, hy sinh cả tính mạng để mở lại cửa thiên đường cho nhân loại.
Chắc chắn rằng chúng ta không xứng đáng, không đủ công trạng như Gioan Tẩy Giả để được vào Nước Trời, nhưng nhờ công nghiệp của Con Thiên Chúa, nhờ sống theo những lời giảng dạy của Chúa Giêsu, chúng ta có thể trở nên những kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời.
Đó là hy vọng vô cùng lớn lao cho những ai theo Chúa Kitô. Đó là niềm vui đích thực của biến cố Giáng Sinh. Chúng ta hãy sống niềm vui đó bằng việc noi gương Chúa Kitô can đảm hy sinh – dễ dàng nhất là hy sinh của cải để giúp đỡ người có nhu cầu, khó khăn hơn là hy sinh ý riêng, hy sinh “cái tôi” của mình để đem lại bình an, hạnh phúc cho gia đình và những người chung quanh.