Mẹ Cứu Giúp

PHẬN NGƯỜI

Vào thời của Chúa Giêsu, những người thu thuế làm việc cho chính quyền La Mã – giới cai trị dân Do Thái – nên họ không được dân chúng ưa thích. Họ bị tẩy chay và cô lập nên thường giao du với những người phóng khoáng, không phải là dân Do Thái, vì thế họ bị đồng hóa với người tội lỗi.

Sự xa lánh người tội lỗi, nói chung là điều khôn ngoan, bởi vì “gần mực thì đen” – gần gũi với người xấu chúng ta sẽ bị xấu lây. Nhưng sự xa lánh đó không có nghĩa chúng ta được quyền tự hào về sự đạo đức của mình để khinh chê những người không đạo đức như chúng ta – đó là thái độ của những người Biệt Phái và luật sĩ ngày xưa đối với giới thu thuế và tội lỗi.

Mỗi người đều được dựng nên theo hình ảnh và giống như Thiên Chúa, bởi thế, không ai hoàn toàn là xấu, và ngược lại, vì hậu quả của tội nguyên tổ, không ai hoàn toàn là tốt. Đây là điểm được nhận thấy trong các dụ ngôn của Đức Giêsu trong bài phúc âm hôm nay.

Khi người Biệt Phái và luật sĩ phàn nàn về sự giao du của Đức Giêsu với “người tội lỗi”, Đức Giêsu mở đầu một dụ ngôn bằng câu hỏi, “Có ai trong các người có một trăm con chiên và bị mất một con, lại không để 99 con trong nơi hoang vắng và đi tìm con chiên lạc cho đến khi tìm thấy?

Thành thật mà nói, đây là câu hỏi khác thường. Trên thực tế, có ai dám để 99 con chiên ở một nơi hoang vắng để đi tìm chỉ có một con chiên lạc, mà rất có thể trong lúc đi tìm lại bị mất thêm các con chiên khác nữa hay không?

Nhưng chính vì sự khác thường của câu hỏi mà người nghe phải suy nghĩ, để ý đến nghĩa bóng của dụ ngôn hơn là nghĩa đen.

Đối với các luật sĩ và Pharisiêu – những người tự hào là đạo đức – Đức Giêsu muốn nói với họ rằng, nếu họ tự hào về sự đạo đức của mình với 99 tính tốt, nhưng chỉ có một tính xấu mà thôi thì cũng đừng vì đó mà khinh chê người khác. Dù chỉ có một khuyết điểm mà thôi thì cũng đừng lấy làm thỏa mãn với con người của mình, nhưng phải cố gắng thay đổi, vì "thiên đàng vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối hơn là chín mươi chín người công chính không cần sám hối ăn năn."

Ngược lại, đối với giới thu thuế và người tội lỗi – có thể nói đời sống của họ có nhiều thói xấu hơn là tính tốt – điểm Đức Giêsu muốn nói là họ đừng nhìn đến 99 tính xấu, mà hãy để ý đến dù chỉ một tính tốt mà thôi, để thấy được giá trị con người và cố gắng tìm cách khôi phục phẩm giá của mình.

Sang đến dụ ngôn thứ hai, câu chuyện người phụ nữ đánh mất một đồng trong mười đồng bạc, Đức Giêsu muốn dùng tỉ lệ 1/10 để nhấn mạnh hơn vào tầm quan trọng của việc hoán cải cho cả hai giới đạo đức và tội lỗi. Dù tội phạm rất nhỏ: 1/100 của giới đạo đức, hay rất lớn: 1/10 của giới tội lỗi, điều đó không quan trọng bằng sự thống hối, "vì cả triều thần thiên quốc sẽ vui mừng vì một người tội lỗi hoán cải."

Hành động hoán cải cần có hai điều: trước hết là nhìn nhận sự sái quấy của mình, thứ hai là nhận biết một giá trị cao hơn để theo đuổi. Trong Kitô Giáo, giá trị này là phẩm giá con người. Đây là điều được thấy trong dụ ngôn thứ ba, “người con hoang đàng”.

Câu chuyện trong dụ ngôn cũng thường xảy ra trong xã hội. Sự tham lam của cải và thích hưởng thụ của người con thứ trong dụ ngôn là điều thường xảy ra trong bất cứ thời đại nào. Khi cha còn sống mà đòi chia gia tài, đó là một hành động hỗn láo, không khác gì muốn cha mình chết sớm. Cha đã già mà con không ở gần để phụng dưỡng, đó là bất hiếu. Và hành động của người cha mừng đón đứa con đi hoang trở về, đó là một hành động bất thường. Bởi vì, một hành động sái quấy của con mà không bị hình phạt thì đó là nuông chiều, nhu nhược về phần của người cha; không những thế, lý do người con này trở về là vì đói khát, nhục nhã – nói chung là vì những ích lợi cho chính bản thân – chứ anh ta không nghĩ gì đến tình thương, sự hiếu thảo đối với cha già để trở về phụng dưỡng. Nhưng chính vì sự bất thường đó, chúng ta mới cảm được tình thương vô cùng bao la của người cha mà Đức Giêsu muốn ám chỉ đến Thiên Chúa.

Trong khung cảnh bài phúc âm hôm nay, dường như Đức Giêsu muốn dùng người con hoang đàng để ám chỉ giới thu thuế và người tội lỗi đang lắng nghe Người. Có lẽ họ đã cảm được phần nào sự thật trong câu chuyện: họ đã phung phí những gì Thiên Chúa ban cho họ trong một cuộc đời không có mục đích, chỉ để hưởng thụ. Nhưng thay vì thỏa mãn, họ lại cảm thấy đói khát. Thay vì cảm thấy có giá trị vì nhiều của cải, họ lại cảm thấy chẳng có ích lợi gì cho ai. Và cũng như người con hoang đàng, động lực thúc giục họ hoán cải là hãy nghĩ đến ích lợi cho chính bản thân, hãy nghĩ đến tình thương vô bờ của Thiên Chúa chứ đừng nghĩ đến tội lỗi của mình. Điều quan trọng là khôi phục lại phẩm giá của một con người mà phẩm giá ấy là được làm con của Thiên Chúa – tương tự như người cha trong dụ ngôn đã sai các đầy tớ xỏ nhẫn, mang dép, mặc áo đẹp cho người con hoang đàng là phục hồi địa vị làm con cho anh ta.

Phản ứng của người anh cả trong dụ ngôn này, dường như, Đức Giêsu muốn nói đến những tâm tư thầm kín của người Biệt Phái và luật sĩ đang khó chịu trước thái độ nhân từ của Đức Giêsu đối với người tội lỗi.

Quan niệm thông thường của người đời là “làm tội thì phải chịu tội” chứ không thể tha thứ cách dễ dàng như vậy được. Và người “có công thì phải được thưởng”. Đây là cách đối xử thường tình trong xã hội, tương tự như người anh cả nói với cha, “Cha coi, đã bao năm trời con hầu hạ cha, và chẳng khi nào trái lệnh, nhưng chưa bao giờ cha cho con dù một con dê nhỏ để ăn mừng với bạn bè. Còn thằng con của cha đó, sau khi đã nuốt hết của cải của cha với bọn điếm, nay trở về, thì cha lại giết bê béo ăn mừng!”

Đây là quan điểm của người đời. Theo quan điểm của Kitô Giáo, anh vẫn chưa thấy được điều quan trọng hơn của cải và vật chất, vì thế, anh đã ganh tị với người em đến độ coi hắn như người xa lạ – anh dùng chữ “thằng con của cha đó” chứ không nói là “em của con”!

Nếu chỉ vì “con dê nhỏ, con bê béo” anh đã dứt bỏ tình nghĩa anh em, làm mất đi tình gia đình thì anh cũng không khác gì người em, đã cắt đứt tình cha con, đòi chia gia tài và bỏ đi hưởng thụ. Nói cách khác, nếu người Pharisiêu, luật sĩ cũng chỉ vì không được hưởng thụ vật chất, khoái lạc mà họ khinh chê, ghét bỏ người tội lỗi thì đó là sự giả hình và chính họ cũng vi phạm điều răn quan trọng là “yêu thương tha nhân như chính mình”.

Điểm quan trọng trong dụ ngôn thứ ba là câu trả lời của người cha: “Con ơi, lúc nào con cũng ở với cha; những gì cha có là của con”. Chúng ta được dựng nên theo hình ảnh và giống như Thiên Chúa, đó là những gì “cha có là của con”. Điều Thiên Chúa muốn là chúng ta giữ được sự thánh thiện, vì đó là hình ảnh của Thiên Chúa. Và người cha kết thúc với câu nói, “Chúng ta phải ăn mừng, phải hân hoan, vì em con đã chết mà nay lại sống, đã mất mà nay lại tìm thấy,” điều đó có nghĩa: tội lỗi đã đưa con người vào sự chết thì sự thánh thiện đưa chúng ta đến sự sống.

Các dụ ngôn hôm nay nhắc nhở chúng ta hãy nghĩ đến thân phận con người. Bởi ảnh hưởng của tội nguyên tổ, tất cả chúng ta đều bất toàn – ít nhiều chúng ta đều có tội, ít nhiều chúng ta đều làm hoen ô phẩm giá con người, làm xa cách với địa vị con cái của Thiên Chúa. Vì thế, thay vì kết án người khác chúng ta cần thông cảm. Thay vì khinh chê những người không cùng một tôn giáo, không có kiểu đạo đức giống như chúng ta, chúng ta cần khiêm tốn nhìn nhận rằng những gì tốt lành chúng ta có cũng là nhờ vào lòng thương xót của Thiên Chúa hơn là vì công sức riêng của chúng ta.

Khi thông cảm với thân phận con người, chúng ta không còn xa lánh, bỏ mặc cho những người chưa được biết đến tình thương bao la của Thiên Chúa, mà chúng ta phải tìm cách đến với họ, giới thiệu cho họ biết về Chúa Giêsu để họ cũng được hạnh phúc như chúng ta. Điều quan trọng trong việc truyền giáo không phải là lời nói, nhưng là lối sống. Lối sống ấy xuất phát từ niềm tin mạnh mẽ vào lời dậy của Chúa Giêsu là hãy “yêu mến tha nhân như chính mình.”

Pt. Giuse Trần Văn Nhật