AI CHẾT CHO AI? AI SỐNG CHO AI?

MS Joshua Nguyễn Huệ Nhật

TÌNH YÊU THƯƠNG CỦA AI TRONG ÐỜI SỐNG CHÚNG TA?

Cuộc đời tôi có nhiều ly kỳ rắc rối và "hấp dẫn" quá phải không? Không hẳn thế đâu, tôi nghĩ rằng thế gian nầy vốn đã có lắm chuyện rắc rối ly kỳ rồi. Nhưng tất cả đều đơn giản trần trụi trong mắt Ðấng Tạo Hóa. Tâm trí của chúng ta không hiểu hết mọi ngõ ngách lắc léo của chính mình. Thế giới chung và riêng của chúng ta luôn luôn mầu nhiệm, chỉ một mình Ðấng Tạo Hóa mới biết hết. Kinh Thánh dạy rằng: "Những bí mật thuộc về Giê-Hô-Va Ðức Chúa Trời chúng ta; song những sự bày tỏ thuộc về chúng ta và con cháu chúng ta đời đời, để chúng ta làm theo mọi lời Chúa dạy. " (Phục truyền 29:29). Nhưng có một đoạn Kinh Thánh rất ngắn trong sách Tân Ước mà tôi cho rằng bất cứ tôn giáo nào, văn hóa nào, chủ nghĩa nào, triết học nào cũng phải chấp nhận hết lòng. Nếu một cá nhân nào, dân tộc nào, chủ thuyết nào, tôn giáo nào, hay một nền văn hóa nào mà không đem lòng học hỏi, tìm hiểu và thực hành đoạn Kinh Thánh nầy, thì tôi có thể kết luận rằng cá nhân ấy, tôn giáo ấy, triết học ấy, chủ nghĩa ấy và văn hóa ấy thuộc về Satan, hoặc ít nhất là đang bị Satan khống chế. Tôi tin chắc rằng không có một thế hệ nào của nhân loại có thể chê đoạn kinh thánh nầy được, trừ ma quỉ. Ðoạn Kinh Thánh ngắn nầy đưa ra cho nhân loại một chân lý sống động, một ý nghĩa dứt khoát, một động cơ rõ ràng cho thái độ sống của con người chúng ta; đó là sống bằng tình yêu thương, và không ai có thể phủ nhận được; không ai có thay đổi được. Chắc chắn là không ai có thể dám vỗ ngực nói rằng tôi là người đã thực hiện được đoạn Kinh Thánh nầy một cách trọn vẹn. Nhưng bất cứ ai có tấm lòng hướng về chân thiện mỹ thì luôn mong ước được thấm nhuần với đoạn Kinh Thánh nầy để càng ngày càng được nhìn thấy sự sâu nhiệm thiêng liêng của Ðấng Tạo Hóa. Nói cách khác, một người luôn ao ước được mặc lấy bổn tính Ðức Chúa Trời trong đời sống của chính mình là một người thật sự tìm kiếm chân thiện mỹ. Chúng ta cùng đọc đoạn Kinh Thánh nầy trong sách I Cô-rin-tô 13:

"1 Dầu tôi nói được các thứ tiếng loài người và tiếng thiên sứ, nếu không có tình yêu thương, thì tôi chỉ như đồng kêu lên hay là chập chõa vang tiếng.

2 Dầu tôi được ơn nói tiên tri, cùng hiểu đủ các sự mầu nhiệm và mọi sự tri thức; dầu tôi có cả đức tin đến nỗi dời núi được, nhưng không có tình yêu thương, thì tôi chẳng ra gì.

3 Dầu tôi phân phát gia tài để nuôi kẻ nghèo khó, lại bỏ thân mình để chịu đốt, song không có tình yêu thương, thì điều đó chẳng ích chi cho tôi.

4 Tình yêu thương hay nhịn nhục; tình yêu thương hay nhơn từ; tình yêu thương chẳng ghen tỵ, chẳng khoe mình, chẳng lên mình kiêu ngạo,

5 chẳng làm điều trái phép, chẳng kiếm tư lợi, chẳng nóng giận, chẳng nghi ngờ sự dữ,

6 chẳng vui về điều không công bình, nhưng vui trong lẽ thật.

7 Tình yêu thương hay dung thứ mọi sự, tin mọi sự, trông cậy mọi sự, nín chịu mọi sự.

8 Tình yêu thương chẳng hề hư mất bao giờ. Các lời tiên tri sẽ hết, ân ban nói tiếng lạ sẽ thôi, sự thông biết hầu bị bỏ. 9 Vì chưng chúng ta hiểu biết chưa trọn vẹn, nói tiên tri cũng chưa trọn vẹn;

10 song lúc sự trọn lành đã đến, thì sự chưa trọn lành sẽ bị bỏ.

11 Khi tôi còn là con trẻ, tôi nói như con trẻ, tư tưởng như con trẻ, suy xét như con trẻ; khi tôi đã thành nhơn, bèn bỏ những điều thuộc về con trẻ.

12 Ngày nay chúng ta xem như trong một cái gương, cách mập mờ: đến bấy giờ chúng ta sẽ thấy hai mặt đối nhau; ngày nay tôi biết chưa hết: đến bấy giờ tôi sẽ biết như Chúa đã biết tôi vậy.

13 Nên bây giờ còn có ba điều nầy: Ðức Tin, Sự trông Cậy và Tình Yêu Thương; nhưng điều trọng hơn trong ba điều đó là Tình Yêu Thương".

Tình Yêu Thương trong đoạn Kinh Thánh nầy là Tình Yêu Thương vô điều kiện từ Thiên Chúa ban đến cho con người. Con người nhận lấy Tình Yêu Thương nầy cho chính mình trước, sau đó mới có thể ứng dụng vào cuộc sống của mình với tha nhân, với ngoại cảnh. Con người phải có kinh nghiệm tình yêu nầy mới bắt đầu nói đến vị tha, xây dựng, hoà bình. Tôi tin chắc rằng hễ ai chưa có kinh nghiệm của tình yêu nầy, thì người ấy chỉ là nói dối mỗi khi đề cập đến những mục đích thiêng liêng và tốt đẹp. Chúng ta không thể phủ nhận giá trị nhất định của tình yêu con người giữa thế gian, nhưng chúng ta biết rằng tình yêu con người hữu hạn không với tới tình yêu thiên thượng, do đó Ðức Chúa Trời đem tình yêu thiên thượng của ngài vào trong thế gian.

Ai xem Chúa Jesus Christ chỉ là một vĩ nhân muốn dạy điều tốt lành cho nhân loại như các vĩ nhân khác, (vì Người cũng dạy cho chúng ta tình yêu thương như Ðức Phật dạy về lòng từ bi chẳng hạn), người ấy vẫn còn đứng ngoài tình yêu thương của Chúa Jesus Christ. Tại sao thế? Tại vì Chúa Jesus không dạy lý thuyết về sự yêu thương cho con người. Người biết con người không thể thực hiện được tình yêu thương vị tha tuyệt đối đúng nghĩa, mặc dù họ có thể học những lý thuyết ấy thuộc lòng. Bởi thế Người dạy rằng "Ta ban cho các ngươi một điều răn mới, nghĩa là các ngươi hãy yêu nhau, như ta đã yêu các ngươi thế nào thì các các ngươi cũng hãy yêu nhau thê ấy. " (Giăng 13:34) Người muốn chúng ta nhận lấy tình yêu của Người cho chính bản thân mình trước khi chúng ta có thể yêu anh em mình vì Người muốn chúng ta yêu anh em mình như Người đã yêu chúng ta.

Tại sao Người phải nói đây là một điều răn mới? Mới ở chỗ nào? Tôi xin thưa với độc giả rằng cái mới ở đây là một điều răn mới chứ không phải là một tình yêu thương mới, vì tình yêu thương trong Ðức Chúa Trời luôn luôn mới. Nhưng những điều răn của Người trong luật pháp thì đã cũ, vì loài người chưa hề làm trọn những điều răn ấy bao giờ. Mục đích tối hậu của Ðức Chúa Trời trong những điều răn ban cho chúng ta là Người muốn chúng ta hiểu rằng từ khi tổ tiên chúng ta đã phạm tội, dòng dõi loài người chúng ta không thể nào làm lành một cách trọn vẹn được, trừ phi chúng ta quay về lại trong Người. Ngày xưa trước khi Chúa Jesus giáng thế lâm phàm thì loài người đã nhận những điều răn qua luật pháp Môi-se. Chỉ Mười Ðiều Răn thôi mà con người của chúng ta không thể thực hiện được. Nhưng suốt những ngàn năm, tuy con người không thực hiện nổi mười điều răn, nhưng nhờ đó mà họ biết được tình trạng bất lực của mình trong việc làm điều lành tránh điều ác. Con người chúng ta hô hào trừng phạt kẻ ác, tiêu diệt kẻ ác, nhưng trong mỗi cá nhân mình có một kẻ ác luôn luôn được che giấu tối đa. Ðó là vì chúng ta chưa trực tiếp kinh nghiệm được điều lành của Ðấng Tạo Hóa, hoặc nói cách khác là chúng ta chưa thật sự nhận lấy tình yêu thương của Người cho chính mình. Chúa Jesus có một điều răn mới để ban cho chúng ta, vì chính Người là Tình Yêu Thương của Ðấng Tạo Hóa. Người ban Con Một của Người cho chúng ta. Kinh Thánh nói rằng nói "Người phó chính mình Người vì chúng ta". Trong lịch sử, Người đã chết cho chúng ta và sống lại cho chúng ta trên 2000 năm nay. Khi chúng ta đã tiếp nhận sự chết của Người vì cớ tội lỗi của chúng ta, chúng ta mới kinh nghiệm sự chết của tội lỗi trong chính bản thân mình. Và Người đã phục sinh cho chúng ta kinh nghiệm tình yêu và quyền năng thiên thượng của Người đang tái tạo chúng ta trong sức sống phục sinh của Người. Khi đã kinh nghiệm được sự chết tội lỗi và sự sống lại con người mới trong Ðức Chúa Jesus Christ, chúng ta cũng kinh nghiệm được tình yêu của Người. Khi đã kinh nghiệm được tình yêu của Người thì chúng ta mới biết cách yêu nhau đúng nghĩa. Vì tình yêu là sự sống, là chân lý là thực hữu chứ không phải lý thuyết trên chữ và giấy. Chúng ta có lý thuyết khoa học, lý thuyết triết học, lý thuyết đạo đức học, v. v. Nhưng chúng ta đừng nên vội vàng với lý thuyết của tình yêu. Nguy hiểm lắm. Vì tình yêu không phải là lý thuyết mà là thực chứng. Sau khi đã thực chứng tình yêu rồi, chúng ta mới thể hiện được tình yêu đúng nghĩa. Nhưng nếu chúng ta chưa thực chứng tình yêu thì dù học bao nhiêu lý thuyết tình yêu cũng chỉ để giả hình tinh vi mà thôi. Tôn giáo thất bại hoàn toàn ở chỗ thực chứng nầy. Vì tôn giáo không thể làm con người chết về tội lỗi để sanh lại tâm linh. Tôn giáo chỉ sửa con người tội lỗi cho nó đẹp hơn mà thôi. Nghĩa là tôn giáo là bộ mặt hóa trang trên bản tính tội lỗi giống như lớp da nhân tạo dán trên thân thể người bịnh phong cùi vậy. Ðiều quan trọng không phải là lớp da ấy, nhưng chính là những con vi trùng trong máu của bịnh nhân phải bị diệt. Ngày nay chúng ta thấy nhiều người còn mất ngón tay, ngón chân, da vị sần sùi, nhưng bịnh cùi trong máu người ấy không còn vi trùng nữa. Chỉ có bác sỹ chuyên khoa mới xác nhận được điều nầy.

Vậy hãy đến với Chúa Jesus để con người thất bại của mình chết với Người. Người là chỗ chết cho tội lỗi của chúng ta. Sau đó Người sẽ làm cho chúng ta sống lại thành con người mới. Con người mới tái sanh này bắt đầu nhận được bản thể tình yêu thương của Người và biết thể hiện tình yêu thương thật. Ví dụ chúng ta dạy lý thuyết tình yêu cho một em bé từ mới sinh cho đến 6, 7 tuổi đầu đời là hoàn toàn vô ích. Nhưng chúng ta phải thể hiện tình yêu thương đúng cách đối với em bé ấy từ khi em còn là một bào thai trong bụng mẹ cho đến lúc em ra đời và lớn lên 6, 7. Một em bé đã nhận được tình yêu thương thật sự qua thời kỳ thai nhi, sơ sanh và lớn lên 6, 7 tuổi, khi lớn lên bản chất tình yêu ấy thể hiện trong nhân cách thật của nó. Có thể khi ấy nó không được học nhiều lý thuyết, nó sống vụng về nhưng nó vẫn thật thà, vẫn có tình yêu trong con người nó. Ngược lại, nếu một đứa bé từ khi sơ sinh cho đến 6, 7 tuổi mà không được yêu thương thật sự, thì dù có nuôi nấng bằng thức ăn vật chất tốt đến mấy đi nữa, khi lớn lên nó sẽ thiếu nhân cách tình yêu; mặc dù nó có thể học thêm nhiều lý thuyết về tình yêu và đạo đức tôn giáo, nhưng nó không thể làm theo các lý thuyết đó một cách tự nhiên và thông suốt được. Tại Việt Nam, tôi đã thấy hàng trăm trẻ bị mồ côi từ lúc sơ sinh; khi trưởng thành, các em nầy chẳng những rất khờ khạo về tình yêu mà còn khờ khạo về nhiều mặt khác nữa. Khi con người thiếu tình yêu từ thuở bé, lớn lên họ bị què quặt cả tâm trí, tình cảm và nhân cách. Tôi có thể trưng dẫn cho quí vị rất nhiều người đang sống ở Việt Nam hiện nay đã ra khỏi các viện mồ côi; họ có thân thể khỏe mạnh tương đối, nhưng tinh thần của họ thật là tội nghiệp! Chỉ vì họ thiếu tình yêu từ khi còn thơ ấu mà đến nay không có gì bù đắp thay thế được nữa. Trễ qua rồi! Những đứa trẻ con nhà cách mạng cộng sản cũng thế. Vì cha mẹ chúng đã chiến đấu, chúng được đảng cộng sản nuôi tập thể bằng sự giáo dục hận thù, nay chúng lớn lên có lý trí, có khôn ngoan nhưng không có đức tính yêu thương. Những người đó đang thừa kế công lao thù hận của cha mẹ họ. Ðó là lý do tại sao chế độ cộng sản không thể xây dựng một xã hội ổn định. Tình yêu nhân loại mà đã quan trọng đến như thế, huống hồ là tình yêu của Ðấng Tạo Hóa còn quan trọng và hiệu nghiệm đến mức nào!

Kinh nghiệm thứ hai của tôi là kinh nghiệm được sự tái sanh trong Chúa Jesus qua thân vị Ðức Thánh Linh. Tôi thấy mình là một người mới. Con người mới trong tôi ngày nay khác với chính tôi ngày trước, bởi vì con người mới nầy là con người được Ðức Chúa Trời dựng nên mới sau khi sự chết và sự sống lại của Chúa Jesus hiện diện trong Ðức Tin của tôi. Bởi thế tôi tin rằng bất cứ một đứa bé mồi côi nào, bất cứ một đứa con cộng sản nào dù khi còn bé bị bỏ rơi, bị nhồi sọ hận thù sai lạc, nay lớn lên và có cơ hội quay về trong Chúa Jesus Christ cũng sẽ được Người làm chết cái bản chất con người cũ tối tăm để được sống lại một bản chất mới trong tình yêu của Người. Tôi nghĩ rằng đây là phép lạ lớn nhất trong những phép lạ Chúa làm cho loài người.

Chúa Jesus là Ðức Chúa Trời nên Người biết rõ bản chất con người hơn cả chính con người biết về họ. Vì thế Người không dạy lý thuyết của tình yêu mà Người ban tình yêu để con người có kinh nghiệm của tình yêu trước khi họ có thể yêu người lân cận. Chúa Jesus khác với tất cả các vĩ nhân tôn giáo như Ðức Phật, Khổng Tử, Lão Tử... Các vị ấy không biết trước rằng nhân loại càng ngày càng phạm tội. Họ không biết rằng những lý thuyết về tình yêu, những phương pháp làm lành lánh dữ mà họ đã dạy cho nhân loại đều là những phương tiện để sửa chữa bề ngoài. Dù có bao nhiêu tôn giáo, loài người càng ngày càng phạm tội một cách tinh vi hơn. Phương tiện tôn giáo chỉ sửa chữa đôi chút hành vi bề ngoài của con người mà thôi, nhưng không thay đổi được bản chất ác trong con người đâu. Phao lô đã xác định điều nầy trong Cô-lô-se 2:23 rằng "Dầu bề ngoài có vẻ khôn ngoan, là bởi thờ lạy theo ý riêng, cách khiêm nhượng và khắc khổ thân thể mình; nhưng không ích chi để chống cự lại lòng dục của xác thịt". Ðúng thế, bởi sự soi sáng của Thánh Linh mà thánh Phao-lô đã cho chúng ta thấy rằng chưa có một tôn giáo nào chỉ ra thật đúng nguồn gốc của bản chất gian ác trong con người cả, nên các giải pháp tôn giáo không thể thay đổi bản chất gian ác ấy trong con người; trừ khi bản chất gian ác đó được chết trong chúa Jesus Christ và tội nhân được tái sinh bởi Thánh Linh. Nếu cứ lấy con người có bản chất ác ra để sửa thì nó vẫn ác, nhưng ác một cách "hay" hơn, ác "đẹp" hơn! Chúa Jesus phán "Nếu một người chẳng sanh lại, thì không thể thấy được nước Ðức Chúa trời" (Giăng 3:3b). Thật thế, chúng ta phải thấy nước thiên đường trong chúng ta khi chúng ta đang sống trên đời nầy. Dù mỗi người của chúng ta đã sống qua bao nhiêu tuổi đời, nhưng khi đến với Chúa Jesus, chúng ta sẽ được chết trong Người để được sanh lại thành một em bé tâm linh. Em bé tâm linh nầy nhận được tình yêu của Chúa như em bé thế gian nhận được sữa mẹ và tình yêu của mẹ. Em bé tâm linh được tái sanh trong chúng ta sau khi con-người-thế-gian của chúng ta chết với Chúa trên thập tự giá của Người. Từ đó chúng ta mang lại một bản chất mới chứ không phải chỉ có một lý thuyết mới trong bản chất cũ như người thế gian. Bản chất mới trong tâm linh mới tức là nước thiên đường mà Chúa Jesus bảo rằng chúng ta có thể thấy được ngay trên đời nầy sau khi đã lại sanh.

Thông thường những kẻ ưa học lý thuyết của tình yêu trong sách vở rất dễ trở thành những kẻ giả hình. Nhưng ai học tình yêu trong sự sống thì biết sống với tình yêu đối với tha nhân. Ðây là Tình Yêu Thương tuyệt đối không phân biệt bạn hay thù, không phân biệt giai cấp, không phân biệt dân tộc, văn hóa, mầu da, người xấu hay người tốt. Ðây là Tình Yêu Thương vô điều kiện của Ðức Chúa Trời trong Chúa Jesus Christ khi Người từ bỏ Thiên Ðường đến thế gian làm một người gánh lấy tội lỗi của loài người để đổ huyết ra chuộc tội cho nhân loại. Người vốn có địa vị trong Ðấng Chí Thánh Chí Ái Tối Cao mà chấp nhận hạ mình chịu sự đau đớn trên thập giá vì tội ác của nhân loại như Phao-lô đã viết thư cho hội thánh Phi-líp nói cụ thể chân lý nầy rằng: "Người vốn có hình Ðức Chúa Trời, song chẳng coi sự bình đẳng mình với Ðức Chúa Trời là sự nên nắm giữ; chính Người đã tự bỏ mình đi, lấy hình tôi tớ và trở nên giống như loài người; Người đã hiện ra như một người, tự hạ mình xuống, vâng phục cho đến chết, thậm chí chết trên cây thập tự. Cũng vì đó nên Ðức Chúa Trời đã đem Người lên rất cao, và ban cho Người danh trên hết mọi danh, hầu cho nghe đến danh của Ðức Chúa Jesus; mọi đầu gối trên trời, dưới đất, bên dưới đất, thảy đều quỳ xuống, và mọi lưỡi thảy đều xưng Jesus Christ là Chúa mà tôn vinh Ðức Chúa Trời là Ðức Chúa Cha" (Phi-líp 2:6-11). Người đem sự tha thứ của Thiên Chúa vào trong nhân loại và đây là cách mà Người truyền đạt cho nhân loại chân lý tha tội của Thiên Chúa. Chân lý tha tội nầy do Ðức Chúa trời hoạch định cho nhân loại trong Chúa Cưú Thế Jesus Christ. Ai nhận được Ơn tha tội của Ðức Chúa Trời trong Chúa Jesus Christ thì người đó có thể tha thứ cho kẻ có lỗi với mình. Chúa Jesus dạy trong bài cầu nguyện rằng "... Xin tha tội lỗi cho chúng con, như chúng con cũng tha kẻ phạm tội nghịch cùng chúng con" (Ma-thi-ơ 6:12). Khi đã làm trọn sự chết cứu chuộc rồi, Người chiến thắng sự chết để phục sinh vinh hiển và ban cho chúng ta sức sống phục sinh của Người. Hễ ai tiếp nhận chân lý tha tội nầy cho chính mình, thì người đó cũng nhận được sức sống phục sinh của chúa Jesus Christ. Và từ đó mới bắt đầu có bản chất tha thứ yêu thương của Thiên Chúa để vượt thắng sự ác giữa thế gian vốn đã đâm rễ trong nguyên tội mà thành kỷ tội. Kỷ tội là bông trái của nguyên tội.

Lời Chúa cho chúng ta thấy rằng dẫu hy sinh cả gia tài, dẫu đem thân thể mình để tự thiêu, nhưng không có tình yêu thương của Thiên Chúa thì ngay bản thân của người tự thiêu ấy cũng chẳng có ích gì (I Cô-rin-tô 13:3). Xin lặp lại rằng ở đây tôi chẳng làm chứng về một lý thuyết nào cả, nhưng tôi kể lại những sự kiện đã xẩy ra giữa Ðức Chúa Trời và cá nhân tôi trong Ðức Tin Chúa Jesus Christ và Lời đã chép trong Kinh Thánh. Ðiều tôi làm chứng ở đây không vượt ra ngoài Lời đã chép trong Kinh Thánh.

Nếu tôi đã tự thiêu như các vị tự thiêu khác, thì nay xét lại trong tư tưởng và hành động tự thiêu ấy có tình yêu thương nầy không? Không! Những người tự thiêu, những người tự tử khủng bố đều là nạn nhân của bịnh lý, của sự cuồng tín, sự căm thù kẻ không cùng chí hướng với mình. Họ binh vực phe nầy chống lại phe kia một cách phiến diện. Họ chết đi để lại sự thù hận được nâng cao trong những người đã từng đạo diễn cái chết cho họ. Họ sẵn lòng hy sinh tính mạng cho những người cùng phe cánh với mình, nhưng tâm trí họ không biết rằng hậu quả của sự hy sinh đó còn tệ hơn trước khi họ hy sinh nữa. Ví dụ như Phật Giáo bị phân rẽ, bị rã tan trầm trọng, dân tộc Việt Nam bị nạn cộng sản vô thần cai trị sau khi hòa thượng Quảng Ðức và các vị khác đã tự thiêu. Ngày nay Hồi Giáo cũng đang bị phân rẽ trầm trọng sau các vụ khủng bố cảm tử của một số người Hồi Giáo cực đoan. Tự sát là hành động phạm tội đối với Thiên Chúa, dù người đó chấp nhận chết một cách anh hùng. Tự tử dưới bất cứ hình thức tôn giáo hay ý thức hệ nào cũng là phạm tội với Ðấng Tạo Hóa của mình.

Ngày xưa tôi sẵn sàng tự sát bằng hình thức tự thiêu, nhưng nay tôi còn sống. Tôi tin rằng có bàn tay mầu nhiệm của Thiên Chúa đã cứu tôi ra khỏi sự chết phù du đó. Không ai có thể giải thích được lý do tại sao tôi còn sống sau nhiều lần đáng ra là phải chết mất rồi. Nay tôi được trở lại trong ơn cứu chuộc của Chúa Jesus Christ, được kinh nghiệm về sự chết trong Chúa Jesus Christ trên thập tự giá và kinh nghiệm sự sống lại trong sức sống phục sinh của Người để mỗi ngày tôi được thấy mình càng thêm mới mẻ vui tươi dù thế giới xung quanh vẫn tiếp tục hỗn độn. Chúa dạy tôi những bài học yêu thương tha thứ đối với kẻ ác. Chúa dạy tôi dứt khoát sống với tư cách một người công bình, một người thánh của Người như tất cả những ai ở trong Người đều là những người thánh của Người, là những người dứt khoát phục vụ nước trời vĩnh cửu mà không lệ thuộc vào sợi dây tội ác của thế gian và thẳng thắn vạch ra những mầm của tội ác ấy đang làm "Christ giả, và tiên tri giả sẽ dấy lên, làm những dấu lớn, phép lạ, nếu có thể được thì họ cũng đến dỗ dành chính những người được chọn" (Ma-thi-ơ 24:24).

Người công bình sống bởi đức tin trong Chúa Jesus Christ vẫn bị hiểu lầm, vẫn bị xuyên tạc, vẫn bị nhạo báng và bị bắt bớ; đó là chuyện bình thường. Vì thế gian là cõi tội lỗi, Kinh Thánh nhắc nhở chúng ta rằng "vả, hết thảy mọi người muốn sống cách nhơn đức trong Ðức Chúa Jesus Christ thì sẽ bị bắt bớ. Nhưng những người hung ác, kẻ giả mạo thì càng chìm đắm luôn trong điều dữ, họ làm cho kẻ khác lầm lạc và cũng làm lầm lạc chính mình nữa" (II Ti-mô-thê 3:12-13).