AI CHẾT CHO AI? AI SỐNG CHO AI?

MS Joshua Nguyễn Huệ Nhật

ÐÔI LỜI CỦA TÁC GIẢ

Từ khi còn bé tôi đã chứng kiến con người mới sinh ra đỏ au, trông yếu đuối hơn con gà con mới nở ra khỏi trứng. Tôi chứng kiến người đau đớn quằn quại trước khi tắt thở. Tôi cũng chứng kiến người chết nằm co ro hiu quạnh hoặc lặng lẽ cô đơn trước khi được chôn cất. Tôi không biết linh hồn người chết đi về đâu, nhưng rất sợ ma.

Khi đọc lịch sử Ðức Phật, tôi thấy vợ chồng vua Tịnh Phạn vì không có con mà phải đi cầu tự nhiều nơi cho đến khi họ sinh ra thái tử Tất Ðạt Ða. Thái tử vừa mới sinh ra đã được tiên tri A-Tư-Ðà xem tướng và đã biết ngay đây là một người phi thường, nếu làm vua, sẽ thành một đấng minh quân, nếu đi tu sẽ thành Phật. Nhưng tiên tri A-Tư-Ðà phải bật khóc, vì biết tuổi mình đã già không còn sống lâu hơn nữa để được học những điều hay từ nơi thái tử. Riêng thái tử lớn lên phải nhờ nhiều bậc thầy dạy dỗ để cuối cùng Người sớm biết buồn đau khi nhìn kẻ chết được đem chôn với nỗi tiếc thương sầu thảm của người thân. Thái tử đã thấy sanh, lão, bịnh tử là nguyên nhân đau khổ giữa cuộc đời. Vì vậy thái tử đã nghĩ đến thân phận ngắn ngủi của mình và của nhân loại nên đành từ bỏ ngôi vua để đi tìm chân lý vĩnh cửu. Sau khi thành Phật, giáo lý của Ðức Thích Ca là con đường diệt khổ, thoát ly sanh lão bịnh tử. Nhưng suốt mấy ngàn năm tôi chưa thấy một người nào thoát khỏi sanh lão bịnh tử; chính Ðức Thích ca cũng phải chết lúc người vừa 81 tuổi.

Sau khi đọc Kinh Thánh, tôi thấy những điểm khác nơi Ðức Chúa Jesus. Người là Ðấng Ngôi Lời từ ban đầu với Thượng Ðế. Trước khi Người giáng thế lâm phàm, Kinh Thánh đã tiên báo suốt hàng ngàn năm. Người không sanh ra do sự kết hợp của cha mẹ mà do phép lạ từ Ðức Chúa Trời gieo và lòng trinh nữ Mary. Chính trinh nữ Mary cũng không biết trước phép lạ xẩy đến cho mình. Khác hơn nữa là khi cụ già Si-mê-ôn vừa gặp Chúa Jesus hài đồng trong đền thờ thì vui mừng khôn xiết và tạ ơn Thượng Ðế, vì ông cảm thấy thỏa lòng nhắm mắt lìa đời sau khi được gặp Chúa Jesus Christ. Bà tiên tri An-ne tuy đã cao tuổi, nhưng cũng vui mừng như thế vì được thấy Chúa Cứu Thế đã xuất hiện. Dù tuổi già, nhưng họ vui sướng khi gặp Chúa vì biết chắc được sự sống đời đời của họ. Dân Do Thái đã chờ đợi Ðấng Cứu Thế theo như Kinh Thánh đã tiên báo chứ không phải bất ngờ như người Nepal Ấn Ðộ đối với thái tử Tất-Ðạt-Ða. Một điều khác hơn nữa là Chúa Jesus không đi học, Người im lặng sống trong cảnh bình dân cho đến thời điểm Người thi hành chức vụ Thượng Ðế ban sai. Trong chức vụ, Chúa Jesus làm nhiều phép lạ cứu nhiều người. Lại một điều khác nữa là Chúa Jesus không chết như quy luật thiên nhiên của đời người, nhưng Người báo trước sự chết của Người và cả mục đích của sự chết ấy. Người cũng nói trước về sự sống lại của Người như Kinh Thánh đã tiên báo. Thế rồi mọi sự đã xẩy ra như lời Thánh Kinh đã chép.

Tôi đã tin Ðức Phật và tận tụy đi theo đạo của người, nhưng không có kết quả gì mầu nhiệm thay đổi cuộc đời của tôi; nhất là vấn đề thất bại đối với tội lỗi của tôi, mặc dù tôi đã đạt tới bậc một đại đức giảng đạo. Giáo lý Phật Giáo lúc đầu mới là lý thuyết, nhưng tôi đã thực hành mà không có kết quả. Tôi nghĩ rằng vấn đề đắc quả thiêng liêng, từ lý thuyết đến thực hành, là một điều nhiêu khê đối với sức lực của con người phàm. Ðó là những gì tôi đã chứng nghiệm cho chính mình. Tuy thế, lúc đầu tôi không từ bỏ đạo Phật, nhưng vì khao khát kiếm tìm chân lý, tôi đã thử tin vào Kinh Thánh. Từ đó, những kết quả đắc thắng tội lỗi, kết quả trút bỏ được gánh nặng tội lỗi và sự nghi ngờ buồn khổ ra khỏi tôi. Tôi nghiệm thấy điều Chúa Jesus nói là đúng sự thật, nghĩa là Người đến để cất gánh nặng tội lỗi cho tôi và đem tôi vào sự bình an, sự đắc thắng của Người, để tôi được tái sanh thành một con người mới thiêng liêng chiến thắng những hèn yếu phàm phu thất bại và được chữa lành rất nhiều vết thương trong tâm hồn cũng như trong thân thể của tôi. Kết quả của Ðức Tin vào Chúa Jesus thật là mầu nhiệm phi thường.

Sự sống và sự chết bây giờ đã có ý nghĩa dứt khoát để tôi vui bước từng ngày và sẵn sàng lìa đời để về nơi vĩnh hằng của Thiên Chúa bất cứ khi nào Người muốn gọi tôi đi. Bây giờ tôi vui sống mỗi ngày cũng như tôi biết rõ ý nghĩa và mục đích tôi sinh ra để làm gì, sau khi chết tôi sẽ đi về đâu. Hạnh phúc nầy quả là quý báu đời đời.

Những kinh nghiệm tôi viết ra đây là sự thật, là bằng chứng của sự sống, của hạnh phúc mà tôi nhận được một cách nhiệm mầu sau khi tin Chúa Jesus Christ. Tôi nghĩ ai cũng cần có hạnh phúc trong đời nầy và cả đời sau. Vì thế tôi viết đôi dòng gởi đến bạn đọc với lòng tha thiết chân thành nhất để nói lên hạnh phúc Chúa ban cho mình. Ðây không phải là vấn đề khen tôn giáo nầy, chê tôn giáo khác, đây là kinh nghiệm sống của tôi, một người đã thất bại trên con đường đi tìm chân lý trong tôn giáo, nay tôi nhận được hồng ân cứu rỗi trong Chúa Cứu Thế Jesus. Ai có kinh nghiệm sống động nào hay hơn điều tôi viết ra đây sẽ làm cho tôi thêm trân trọng và vui mừng. Tôi không tin rằng ngoài Chúa Jesus Christ ra, con người có thể quyết định cho mình hạnh phúc vĩnh cửu và chiến thắng tội lỗi bằng sức riêng của mình như các giáo lý loài người đã từng dạy. Lời Chúa không phải là giáo lý suông mà là lời sống của Ðấng quyền năng sáng tạo vũ trụ. Người đến thế gian để tái tạo lại con người từ thân phận phàm phu trở nên địa vị thánh và chiến thắng mọi nan đề của tội lỗi xấu xa hèn yếu của họ ngay trong đời tạm nầy. Chính đây là hạnh phúc cao quý nhất và là chân lý vĩnh cửu vậy. Vì tôi đã được giải đáp thỏa đáng hoàn toàn về sự sống và sự chết, về cõi tạm và cõi đời đời.

Tôi mong người hiểu biết hơn tôi góp ý cho bất cứ một sự thiếu sót nào trong quyển sách nầy. Thật là tuyệt vời, vì chúng ta, ai cũng có tự do để được nói điều mình kinh nghiệm, điều mình tin và điều mình không còn tin nữa.

Xin đa tạ bạn đọc đã chia sẻ với tôi trong quyển sách "Ai Chết Cho Ai? Ai Sống Cho Ai?" Kính chúc quí độc giả có cơ hội đọc Kinh Thánh để nhận biết hồng ân cứu rỗi của Thượng Ðế cho chính mình.

Chú tiểu Nguyễn Huệ Nhật năm 1961 (sau 2 năm trong Chùa Hải Hội, Huế, Việt Nam)

Đại Đức Nguyễn Huệ Nhật năm 1972 (thụ phong đại đức năm 1968 tại Phật Học Viện Nha Trang)