Nguoi Tin Huu Logo
  • Trang Nhà
  • Trang Chính
    • CHIA SẺ
      • ĐỖ TRÂN DUY
      • VŨ THẮNG & LUMI HỒNG NHUNG
      • NGUYỄN HUỆ NHẬT
        • TỪ ÁO CÀSA ĐẾN THẬP TỰ GIÁ
        • AI CHẾT CHO AI? AI SỐNG CHO AI?
        • ĐỐI THOẠI VỚI MỘT PHẬN TỬ
      • NHIỀU TÁC GIẢ
    • DÒNG MÁU ANH HÙNG
    • ĐƯỜNG VÀO ĐẠO
    • HIỂU ĐỂ SỐNG ĐẠO
    • HÔN NHÂN CÔNG GIÁO
    • HỘ GIÁO
    • LỊCH SỬ GIÁO HỘI
    • MÁI ẤM GIA ĐÌNH
    • PHỤNG VỤ
      • Bài Giảng
      • Các Nghi Thức
    • SÁCH & TRUYỆN
  • Trang Hàng Ngày
    • GƯƠNG THÁNH NHÂN
    • SUY NIỆM HÀNG NGÀY
  • Trang Ngoài
    • VIETCATHOLIC
    • CẦU NGUYỆN BẰNG THÁNH VỊNH ĐÁP CA
    • HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VN
    • DÒNG CHÚA CỨU THẾ VN
    • DÒNG TÊN VN
    • LIÊN HIỆP BỀ TRÊN THƯỢNG CẤP VN
    • TRANG SỨ GIẢ TÌNH YÊU

Đỗ Trân Duy

VẤN ĐỀ BẢN VỊ HÓA

Đức Giêsu ra lệnh cho các môn đồ hãy đi giảng đạo cho muôn dân (Mc 16:15). Để thực hiện điều này người truyền Đạo phải nói được ngôn ngữ của dân tộc mình muốn tới. Không những thế người truyền Đạo còn phải hiểu biết và tôn trọng văn hóa địa phương của họ. Vì vậy vấn đề “hội nhập văn hóa” phải đặt ra. Theo ngôn ngữ thần học, “hội nhập văn hóa” còn được gọi là “bản vị hóa” (inculturation), nghĩa là dùng văn hóa bản địa làm phương tiện để tôn vinh Thiên Chúa.(1)

Khái niệm bản vị hóa đã được đưa ra trong Công đồng Vatican II (1962-1965). Chủ đề bàn về sự cần thiết gắn kết một cách chân thực với các nền văn hóa đa dạng, đồng thời vẫn bảo toàn tính toàn vẹn chân lý của Kitô giáo.

Những Nhân Vật Khởi Đầu Cho Cuộc Bản Vị Hóa

Đức Giêsu

Không thể chối cãi dù nhìn ngắm Đức Giêsu theo chiều kích nào, Người vẫn là một nhân vật trong không gian và thời gian. Người có một quê hương và một phả hệ rõ rệt. Đôi khi người ta còn gọi rõ hơn “Đức Giêsu Nazareth”, hay “Giêsu con vua Đavít”. Người đã sống với truyền thống văn hóa địa phương và đã giảng đạo bằng ngôn ngữ của quê hương mình. Người đã dùng những thực thể như cây nho, lạc đà, người chăn chiên... của miền Nazareth như những biểu tượng dẫn vào Đạo . Suy ra, khi đi vào lịch sử nhân loại, chính Đức Giêsu đã làm gương cho chiều hướng bản vị hóa để rao giảng Nước Trời.  

Đức Maria

Năm 1531, Đức Mẹ hiện ra với Juan Diego tại Guadalupe, Mexico. Đức Mẹ đã nói chuyện với Juan Diego bằng thổ ngữ Nahua. Hơn thế nữa Đức Mẹ còn mặc y phục theo truyền thống của Nahua. Chúng ta hãy tự trả lời câu hỏi, Đức Mẹ hiện ra ở La Vang (Việt Nam), ở Fatima (Portugal – Bồ Đào Nha), ở Lộ Đức (Lourdes - Pháp)... Đức Mẹ đã nói với người nơi đó bằng ngôn ngữ nào?

Thánh Phêrô

Thánh Phêrô trên đường hành đạo, một hôm dừng chân ở thành Giô Pha (Joppa), ở trọ nhà ông Simôn (Simon). Vào giờ thứ sáu trong ngày, thánh lên mái nhà cầu nguyện cho thanh vắng. Chợt Phêrô có thị kiến, một tấm vải hạ xuống trước mặt ông, trong đó gồm chim trời và các loài bò sát. Rồi có tiếng phán, “Phêrô! Hãy làm thịt chúng mà ăn.” Phêrô thưa, “Chúa ôi! có bao giờ con ăn đồ ô uế này.” Tiếng ấy lại phán, “Vật gì Thiên Chúa đã cho là sạch thì ngươi chớ cho là ô uế.”

Thánh Phêrô tỉnh dậy, đang khi còn hoang mang thì có người tìm đến. Họ là lính hầu của quan đội trưởng La Mã Cônê (Cornelius), xứ Xêgiarê (Caesarea). Họ là dân ngoại, dân bị người Do Thái coi là ô tạp vì họ không cắt bì, không sống theo luật Môise. Họ nói, “Quan đội trưởng được thiên sứ mách bảo đến mời ông về nhà, để nghe ông giảng Đạo.”

Phêrô chợt hiểu ý nghĩa về thị kiến tấm vải với những con thú ô tạp. Chúng ta không được kỳ thị chủng tộc, nâng cao dân tộc mình và cho những dân khác là ô uế. Tất cả mọi chủng tộc đều là con cái Thiên Chúa và đều được Thiên Chúa cứu độ. (Cv 9:43, 10:1-22, và 11:3-17).

Thánh Phaolô

Trong trường hợp Thánh Phêrô, ông chỉ là người chấp nhận lệnh truyền từ Thiên Chúa. Trường hợp Thánh Phaolô thì khác. Khi lưu hành truyền đạo ở những xứ xa xăm dị văn hóa tận Âu Châu và Tiểu Á, Phaolô tự ý hợp thức hóa các tập tục truyền thống của địa phương và khai đạo nhập môn cho tân tòng. Thánh nhân nói, “Đối với Đức Giêsu cắt bì hay không cắt bì cũng chẳng có giá trị gì. Điều quan trọng là trở nên một người mới” (Gl 6:15). Thánh Phaolô, một nhà tư tưởng thông thái Kitô giáo, ngay từ thời giáo hội sơ khai, đã nhìn ra ngôi vị Đức Kitô của nhân loại và vũ trụ. Phaolô đã mở đường cho nhu cầu bản vị hóa. Đó là một cuộc cách mạng rất quan trọng về ý thức hệ.

Duy Nhất Tính Của Thiên Chúa Có Trong Mọi Nền Văn Hóa

Chúng ta đều biết Thiên Chúa là Đấng duy nhất, siêu việt, hằng tồn, không biến đổi. Đó là duy-nhất-tính của Thiên Chúa. Tuy nhiên Đức Giêsu đã gọi Thiên Chúa là Abba (Bố), một thổ ngữ Aramaic vùng Nazareth. Tiếng gọi đầy thân thương Abba là hình thức diễn tả nhân tính thuộc văn hóa địa phương. Kitô hữu ai cũng biết duy-nhất-tính của Thiên Chúa, nhưng chúng ta chỉ có thể biểu lộ cảm nghĩ của mình qua chất liệu văn hóa địa phương mà mình đang có.

Đức tin Kitô giáo khi đi vào lịch sử đã tự tạo ra một hình thái văn hóa riêng. Đó là nền văn hóa của thời Cựu Ước, của lịch sử Dân Chúa, của cuộc gặp gỡ với triết học Địa Trung Hải, Hy Lạp và La Mã. Tuy nhiên nếu muốn một anh nông dân Việt Nam biểu lộ cảm nghiệm về Thiên Chúa qua những khái niệm của văn hóa Do Thái hay triết lý Hi-La sẽ là một đòi hỏi hoang đường. Điều này không có nghĩa mọi chiêm niệm về Đức Giêsu là một tri thức phi lịch sử, phi văn hóa. Ngược lại nó có nghĩa là lời dậy của Đức Giêsu là chân lý của mọi văn hóa.

 “Hãy đi khắp thế gian giảng đạo” vì ơn cứu độ cống hiến cho hết thảy mọi người. Theo chiều hướng này, Giao Ước Mới mang tầm phổ quát vượt thời gian và không gian. Sự nhập thế của Đức Kitô là biểu tượng cứu độ của Thiên Chúa không ngừng nghỉ trong toàn bộ lịch sử nhân loại, bất kể họ thuộc những nền văn hóa nào. (2)  

Một Góc Nhìn Về Bản Vị Hóa Trong Trường Hợp “Society Of Saint Pius X”

Biến cố của nhóm “Society of Saint Pius X” (SSPX  - Huynh Đoàn Thánh Piô X) trong tháng 7 vừa qua là một minh chứng thời đại cho thấy tầm quan trọng của vấn đề bản vị hóa.(3)

Ngày 2 tháng 7,  2026,  Tòa Thánh Vatican đã đưa ra án phạt vạ tuyệt thông (excommunication) đối với nhóm SSPX. Đây là hình phạt “tiền kết” (Latae Sententiae) – nghĩa là phạm nhân mắc phải hình phạt ngay khi vi phạm luật mà không cần tòa kết án (Giáo Luật Công Giáo, điều 1314).(4)

Nguyên nhân của bản án, đối với Vatican, vì SSPX tự ý phong chức giám mục cho 4 vị linh mục trong nhóm mà không có phép của Giáo Hoàng. Chiếu theo Giáo luật thì đây là “hành vi ly giáo” (schismatic act). (5)

Nguyên nhân SSPX tự ý phong chức Giám Mục cho 4 thành viên vì họ muốn duy trì truyền thống dùng tiếng Latin và nghi thức phụng vụ thánh lễ theo lối cũ (Tridentine Mass trước thời Công Đồng Vatican II). Suy ra bản vị hóa là một trong những vấn đề căn gốc của sự bất đồng quan điểm.

Chúng ta nên nhìn lại những sự kiện lich sử để có một bức tranh toàn diện.

Giáo Hội trong thời kỳ sơ khai, Thánh lễ được cử hành bằng tiếng Hy Lạp (ngôn ngữ phổ quát trong thời đó). Đến thế kỷ III–IV, Giáo hội chuyển sang dùng tiếng Latin vì lúc đó Latin là "tiếng bình dân" (vulgata) của mọi dân tộc thuộc Đế quốc La Mã.

Qua thế kỷ V, Công Giáo được truyền bá khắp nơi, ra khỏi ranh giới của đế quốc La mã. Rồi chính đế quốc La Mã cũng sụp đổ. Tiếng Latin không được dùng nữa nên trở thành ngôn ngữ chết (tử ngữ).

Qua thế kỷ 20, thần học nhận ra Thánh Lễ không chỉ là nghi thức thờ phượng mà còn là nguồn phụng vụ giáo huấn. Sự kiện Thánh lễ được cử hành bằng tiếng Latin và linh mục quay lưng về phía cộng đoàn khiến giáo dân vì không hiểu tiếng Latin đã tham dự một cách thụ động. Việc dùng ngôn ngữ bản xứ sẽ giúp mọi tín hữu hiểu rõ Lời Chúa. Công giáo sẽ đến gần hơn với các dân tộc và bám rễ sâu vào văn hóa địa phương của ho. (6)

Trong tinh thần ấy, ngày 4 tháng 12 năm 1963 Công đồng Vaticanô II ban hành Hiến chế Phụng vụ Sacrosanctum Concilium. Văn kiện chính thức cho phép sử dụng tiếng địa phương trong Thánh lễ bên cạnh tiếng Latin.

Ngày 3 tháng 4 năm 1969: Giáo hoàng Phaolô VI ban hành Tông hiến Missale Romanum (Sách Lễ Roma) phê chuẩn Sách Lễ Mới (Novus Ordo Missae). Từ thời điểm này tiếng địa phương trở thành ngôn ngữ chủ yếu của Thánh lễ Công giáo trên toàn thế giới. Với Hiến chế Phụng vụ (Sacrosanctum Concilium) việc sử dụng ngôn ngữ địa phương trong Thánh lễ không chỉ là một điều chỉnh mang tính kỹ thuật, mà chứa đựng những giá trị sâu sắc về mục vụ và thần học. (7)

Về Phương Diện Mục Vụ: Thúc Đẩy Quá Trình Bản Vị Hóa

  • Ngôn ngữ, âm nhạc... địa phương là những cảm xúc từ tuổi thơ. Việc dùng ngôn ngữ địa phương sẽ giúp giáo dân lắng nghe, thưa đáp lời nguyện và hòa mình vào Thánh lễ. Ý nghĩa giáo lý dễ dàng đi thẳng vào lòng người. Việc suy niệm Lời Chúa trở nên sâu sắc và Phúc Âm hóa một cách tự nhiên trong đời sống.
  • Có sự tham dự chủ động của giáo dân (Participatio actuosa). Hiểu được ngôn ngữ giúp giáo dân không còn là khán giả đứng ngoài "xem lễ”, mà trở thành người đồng tế tâm linh. Họ có thể thưa đáp và cầu nguyện với trọn vẹn ý thức của mình.
  • Thấu hiểu sâu sắc Lời Chúa và Phụng vụ. Khi các bài đọc Kinh Thánh, bài giảng và các lời nguyện được cất lên bằng tiếng mẹ đẻ, ý nghĩa giáo lý và thông điệp tâm linh dễ đi vào lòng người. Việc suy niệm Lời Chúa nhờ đó trở nên tự nhiên và sâu sắc hơn.
  • Xây dựng tính cộng đồng vững mạnh. Sự đồng thanh đáp lời và cất tiếng hát chung một ngôn ngữ giúp thắt chặt tình đoàn kết, tinh thần hiệp thông giữa các giáo dân trong giáo xứ.

Về Phương Diện Thần Học: Phụng Vụ Cộng Đồng

  • Bản chất Đối Thoại của Phụng vụ (Dialogical Nature) là tình yêu giữa Thiên Chúa và con người. Thiên Chúa ngỏ lời với dân Chúa.  Dân Chúa đáp lại qua lời nguyện, bài hát, và lời tạ ơn. Việc hiểu trực tiếp lời mình nghe sẽ giúp cuộc đối thoại mang tính chân thực từ tâm hồn, thay vì chỉ lặp lại các công thức một cách thuộc lòng hình thức (ex opere operato).
  • Theo thần học Nhập thể (Incarnational Theology), mẫu hình tối cao của sự bản vị hóa chính là Mầu nhiệm Nhập thể: “Ngôi Lời đã trở nên người phàm và ở giữa chúng ta” (Ga 1:14). Thiên Chúa đi vào lịch sử, văn hóa và ngôn ngữ của con người. Việc cử hành phụng vụ bằng tiếng địa phương tiếp nối tiến trình nhập thể đó. Lời Chúa và Mầu nhiệm cứu độ phải thực sự cắm rễ vào đời sống, suy nghĩ và cảm xúc của từng dân tộc.
  • Theo thần học về Chúa Thánh Thần (Pneumatology) chiều kích Ngôi Ba hiện xuống làm cho mọi dân tộc với những ngôn ngữ khác nhau đều nghe được lời rao giảng của các Tông đồ (Cv 2).  Đó là sự đa dạng trong Thống nhất, đánh dấu việc tôn vinh Thiên Chúa bằng chính tiếng mẹ đẻ của mình.
  • Thần học Bí tích và Hiệu quả mục vụ (Sacramental Efficacy). Các bí tích và nghi thức phụng vụ là những dấu-chỉ hữu hình diễn tả ân sủng vô hình. Dấu-chỉ có thể phát huy tối đa hiệu quả và nuôi dưỡng đức tin khi con người nhận biết và hiểu được ý nghĩa của nó.

Vị Thế Đúng Của Bản Vị Hóa

Bản vị hóa, tuy nhiên, không thể coi là giải đáp trọn vẹn cho nhu cầu truyền bá Phúc Âm. Bởi vì Công Giáo thật sự có một nền văn hóa riêng biệt không thể hòa lẫn với những nền văn hóa khác. Cũng thế, Kitô Giáo có một đức tin riêng không thể trộn lẫn với những niềm tin của những tôn giáo khác.

Để có thể bàn luận cụ thể vấn đề này, chúng ta hãy lấy trường hợp bản vị hóa tại Hy Lạp làm chứng cứ. Khi Kitô giáo đến Hy Lạp (thế kỷ I-II) vào lúc tôn giáo Hy Lạp tràn ngập thần thoại, niềm tin đa thần với các nghi lễ có tính cục bộ. Kitô giáo dứt khoát bác bỏ tất cả những thần linh này. Thiên Chúa của Kitô giáo không phải là một thần linh mang tính thần thoại địa phương, mà là Chân Lý (Veritas), là Lời/Lý trí sáng tạo (Logos) của toàn thể vũ trụ.

Tuy nhiên Kitô giáo tìm thấy có những điểm chung nơi các nhà triết học Hy Lạp (như Socrates, Plato, Aristotle). Họ là những người đã dùng lý trí để tìm kiếm Chân lý tối thượng về con người và về vũ trụ. Vì vậy, Đức tin Kitô giáo và Triết học Hy Lạp đã có cuộc gặp gỡ trong sự tìm kiếm chân lý bằng Lý trí và niềm tin vào Đấng Thiên Chúa Duy Nhất.

Theo Ratzinger (Giáo Hòang Benedict XVI), cuộc gặp gỡ giữa Đức tin Kitô giáo và Triết học Hy Lạp không phải chỉ là một sự kiện lịch sử nhưng là một sự kiện mang tính Quan phòng (Providential Event). (Bài diễn văn “Christ, Faith and the Challenge of Cultures”. 1993, Hồng Kông).

Các khái niệm triết học Hy Lạp như Ousia (Bản thể), Hypostasis (Bản vị), Prosopon (Ngôi vị) đã giúp các giáo phụ diễn tả Mạc khải về Thiên Chúa Ba Ngôi và Lưỡng tính của Đức Kitô. Đây là nền tảng Thần Học Thiên Chúa Ba Ngôi không thể thay thế.

Nhờ chất liệu từ triết học Hy Lạp, Kitô giáo đã có được một ngôn ngữ phổ quát (universal language). Đức tin nhờ đó không bị giam hãm trong phạm vi một dân tộc (Do Thái) hay một vùng địa lý, mà có thể ngỏ lời với mọi người trong mọi thời đại thông qua nền lý trí khách quan.

Tóm lại “di sản Hy Lạp - Kitô giáo” là tài sản của Giáo Hội cần phải bảo vệ. Đây là nền tảng mà Giáo hội phải giữ vững trước khi bước vào bất kỳ nền văn hóa nào khác trên thế giới.

Cuộc gặp gỡ giữa Kitô giáo và các nền văn hóa Châu Á (Nho giáo, Phật giáo, Ấn Độ giáo...) cũng phải theo đúng mô hình mà Kitô giáo sơ khai đã có với Hy Lạp. Nghĩa là dùng Lý trí để đối thoại, đón nhận những mầm sống Chân lý (Semina Verbi), đồng thời thanh tẩy những yếu tố thần thoại hoặc những niềm tin đi ngược lại phẩm giá con người.( Joseph Cardinal Ratzinger, Truth and Tolerance, Ignatius Press, San Francisco, 2004.)

Tại Á Châu đã có một sự ngộ nhận khiến Kitô giáo bị cấm kỵ. Nhiều người Á Châu đã mang thành kiến cho Kitô giáo là tôn giáo của nhóm đế quốc thực dân Âu Châu muốn áp đặt lên dân Á Châu. Trên thực tế Kitô giáo không xuất phát ở Âu Châu mà ở Cận Đông (Near East), nơi giao thoa giữa Á Châu, Âu châu và Phi Châu. Trong thế kỷ I, Kitô giáo đã có mặt ở vùng Tiểu Á (Asia Minor). Kitô giáo đã có sự giao thoa văn hóa (interculturality) với Á Châu từ thời sơ khai.

Sự lan rộng Kitô giáo không có tính cách "xâm lược văn hóa", mà là cuộc gặp gỡ giữa các nền văn hóa (encounter of cultures). Việc tiếp nhận di sản Kitô giáo không buộc người Châu Á hay Châu Phi phải "Tây phương hóa” nhưng là gia nhập vào dòng chảy chung của Lý trí và Chân lý mà Thiên Chúa đã dọn sẵn trong lịch sử. (8)

Bởi vì bất kỳ nền văn hóa nào cũng mang bản tính nhân loại chung (common human nature), do đó văn hóa không phải là một hệ thống “đóng”, khép kín, cố định, nhưng là hệ thống “mở”, hướng đến việc tìm kiếm ý nghĩa sự thật về con người và vũ trụ (nghĩa là hướng đến chân lý). Vì vậy các nền văn hóa có thể đối thoại, hiểu nhau và làm giàu cho nhau ở cấp độ sâu sắc nhất. Sự lan rộng của Kitô giáo không phải là việc "xâm lược văn hóa", mà là cuộc gặp gỡ giữa các nền văn hóa. Bản vị hóa không khiến họ mất đi bản sắc, mà là được tháp nhập vào một "Văn hóa của Dân Chúa" (Culture of the People of God) rộng lớn hơn, mang tính phổ quát toàn cầu.

Xin đưa ra một vài chi tiết làm điển hình. Những âm thanh như Hosana, Alleluia, Amen ... không thể nào thay thế bằng những tiếng địa phương. Để chỉ đặc tính siêu việt ngôn ngữ latin có những danh xưng như: santus (tiếng Anh là saint), holy (holy), sacer (sacred), pius (pious), consecratus (consecrated),  divinus (devine)... Những tiếng tôn vinh này Anh ngữ đều có chữ tương đương, nhưng tiếng Việt thì không. Tất cả đều được Việt ngữ gọi chung chung là “thánh”. Chẳng hạn “holy land” (đất thánh), “Saint Peter” (Thánh Phê-rô) và “Sacred Heart” (Thánh Tâm) cả ba đều mang nghĩa “thánh”.  Trên thực tế ba chữ “holy”, “saint” và “sacred” mang ý nghĩa rất khác nhau.

Theo Giáo Hoàng Benedict XVI  vấn đề bản vị hóa nên cần phải khảo sát thêm. Giáo hoàng nhìn nhận cần phải có sự hòa nhập văn hóa, nhưng để tránh sự trộn lẫn, người dè dặt đề xuất thay thế thuật ngữ “Bản vị hóa” bằng thuật ngữ “Tính liên văn hóa” (Interculturality / Inter-culturality) (“Christ, Faith and the Challenge of Cultures”. 1993). Bởi vì đức tin Kitô giáo không thể đón nhận trọn gói mọi yếu tố của văn hóa bản địa. Phúc Âm đi vào văn hóa bản địa để chữa lành, biến đổi và thanh tẩy những khía cạnh sai lệch đi ngược lại với phẩm giá con người, đồng thời nâng cao những giá trị chân-thiện-mỹ sẵn có.

GHI CHÚ

(1) Thuật ngữ Inculturation do Linh mục Joseph Masson, S.J. (Dòng Tên, người Bỉ) đầu tiên đưa ra trong văn bản thần học vào năm 1962. Kế đó Linh mục Pedro Arrupe, S.J. (Bề trên Tổng quyền Dòng Tên) chính thức đưa thuật ngữ Inculturation vào Thượng hội đồng Giám mục năm 1977, từ đó nó trở thành thuật ngữ chính thức của Giáo hội Công giáo Toàn cầu. Trong tiếng Việt, Inculturation được dịch theo nhiều cách như: Hội nhập văn hóa, Nhập thể văn hóa, Thích ứng văn hóa...
Một nhóm học giả/thần học gia Việt tại Đài Loan (đặc biệt là Linh mục Giáo sư Vũ Kim Chính, S.J. tại Đại học Công giáo Phụ Nhân - Đài Loan) khi soạn thảo các tác phẩm thần học tiếng Việt đã chọn và dùng cụm từ "Thần học Bản vị hóa" (Inculturated Theology) để chuyển ngữ. Từ đó thuật ngữ "Bản vị hóa" (本位化) đã được dùng trong giới thần học Việt ngữ.
(2) nếu có dịp du lịch qua các nước trên thế giới, các bạn sẽ thấy những bức tượng và những bức tranh vẽ thánh gia theo văn hóa địa phương, chẳng hạn Đức Mẹ mặc y phục Đại Hàn, thánh Giuse da đen ở Phi Châu... Tuy những ảnh tượng đó không đúng với những nhân vật lịch sử nhưng lại biểu lộ đúng tình yêu trong liên kết bản vị hóa.
(3) Đúng hơn là đây một phản ứng kháng cự (hoặc từ chối) đối với đường lối hội nhập văn hóa và canh tân của Công giáo sau Công đồng Vaticanô II.
(4) Đáng tiếc là hậu quả của án phạt liên quan đến những giáo dân đi theo SSPX . Bởi vì các bí tích do các linh mục SSPX cử hành như xưng tội, hôn phối... đều không còn hiệu lực.
(5) Theo nguyên văn của bản án sự kiện tự phong chức Giám Mục là "tội cực kỳ nặng" (sin of extreme gravity) vì phá vỡ sự hiệp nhất của Giáo Hội. SSPX  do Tổng Giám mục Marcel Lefebvre (người Pháp) thành lập năm 1970 tại Écône, Thụy Sĩ. Họ phản đối sự cải cách của Công đồng Vatican II (1962-1965) về những thay đổi phụng vụ và một số khía cạnh của thần học hiện đại. Họ muốn giữ truyền thống Thánh lễ Latinh cổ (Traditional Latin Mass - Tridentine Mass). Họ tự coi mình là những người “bảo vệ đức tin Công giáo truyền thống” và kết án Giáo hội đang bị “hiện đại hóa quá mức”.
(6) xin lưu ý, tiếng Latin hiện nay vẫn giữ vị trí là ngôn ngữ chính thức (ngôn ngữ gốc) của Tòa Thánh Vatican và Giáo hội Công giáo Rôma. Tuy nhiên tiếng địa phương được ưu tiên sử dụng trong đời sống phụng vụ thường nhật của tín hữu. Cũng cần nói rõ Tòa Thánh Vatican phạn vạ tuyệt thông không phải vì lý do SSPX dùng tiếng Latin trong Thánh Lễ, nhưng vì họ tự ý phong chức Giám Mục cho 4 thành viên của họ.
(7) Theo tinh thần Công giáo (đặc biệt từ sau Công đồng Vaticanô II), bản vị hóa (inculturatio) là quá trình đem Tin Mừng và Phụng vụ cắm rễ vào bản sắc, ngôn ngữ và phong tục của từng dân tộc địa phương, nhưng không làm thay đổi cốt lõi đức tin.
(8) Trong bài diễn văn năm 1993, Ratzinger đã bảo vệ mạnh mẽ tính duy nhất và tính liên tục của Lịch sử Cứu rỗi (Salvation History). Sự gặp gỡ giữa Đức tin và Triết học Hy Lạp không phải là một "tai nạn văn hóa" của thế kỷ I–IV, mà là chiến thắng của Lý trí và Đức tin, trước Mê tín và Thần thoại — một nền tảng phương pháp luận mà Giáo hội phải tiếp tục giữ vững khi bước vào bất kỳ văn hóa nào khác trên thế giới.
SÁCH THAM KHẢO
Joseph Cardinal Ratzinger, Truth and Tolerance, Christian Belief and World Religions , IgnatiusPress, San Francisco, 2004.
.

Mục Lục

© 2025 NGUOI TIN HUU - All Rights Reserved.NGUOITINHUU