Nguoi Tin Huu Logo
  • Trang Nhà
  • Trang Chính
    • CHIA SẺ
      • ĐỖ TRÂN DUY
      • Lm. HỒNG GIÁO
      • NGUYỄN HUỆ NHẬT
        • TỪ ÁO CÀSA ĐẾN THẬP TỰ GIÁ
        • AI CHẾT CHO AI? AI SỐNG CHO AI?
        • ĐỐI THOẠI VỚI MỘT PHẬN TỬ
      • NHIỀU TÁC GIẢ
    • DÒNG MÁU ANH HÙNG
    • ĐƯỜNG VÀO ĐẠO
    • HIỂU ĐỂ SỐNG ĐẠO
    • HÔN NHÂN CÔNG GIÁO
    • HỘ GIÁO
    • LỊCH SỬ GIÁO HỘI
    • MÁI ẤM GIA ĐÌNH
    • PHỤNG VỤ
      • Bài Giảng
      • Các Nghi Thức
    • SÁCH & TRUYỆN
  • Trang Hàng Ngày
    • GƯƠNG THÁNH NHÂN
    • SUY NIỆM HÀNG NGÀY
  • Trang Ngoài
    • VIETCATHOLIC
    • CẦU NGUYỆN BẰNG THÁNH VỊNH ĐÁP CA
    • HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VN
    • DÒNG CHÚA CỨU THẾ VN
    • DÒNG TÊN VN
    • LIÊN HIỆP BỀ TRÊN THƯỢNG CẤP VN
    • TRANG SỨ GIẢ TÌNH YÊU

Đỗ Trân Duy

TÔI TIN

Lòng tin tưởng là một yếu tố luân lý, nó tạo nên mối kết nối an toàn trong xã hội. Mất lòng tin sẽ dẫn đến sự nghi ngờ, sợ hãi, và làm đổ vỡ mối quan hệ. Tin tưởng còn là một yếu tố tâm lý khi quần chúng tin vào lời hứa của lãnh tụ... Về mặt tri thức có lẽ lời dạy của Phật dễ được đại chúng chấp nhận. Kinh Kalama dạy rằng con người đừng nệ vào kinh điển, đừng dựa vào lời nói của các đạo sư... nhưng phải biết quan sát, suy nghĩ, sàng lọc của tri thức rồi mới tin.(1)

Nói chung, những dạng niềm tin vừa nói đều cần một hệ thống giải thích để làm rõ nghĩa. Đức  tin trong Công Giáo  nằm bên ngoài tất cả những quan niệm nêu trên. Đức tin Công Giáo (gọi tắt là Đức Tin – viết hoa) thường bị xã hội giản lược trong công thức “Phúc cho ai không thấy mà tin”. Từ đó nảy sinh ra sự ngộ nhận cho rằng tín đồ  Công Giáo bị cưỡng ép tin, không cần phải thấy và hiểu. Rồi bị mỉa mai là tin tưởng mù quáng. Do đó Đức Tin vẫn cần phải làm cho sáng tỏ. 

Đức Tin Không Phải Là ...

Thông thường người ta tin vào một điều nào đó qua hai yếu tố. Thứ nhất vì điều ấy đã được thấy, được khảo sát. Thứ hai vì điều ấy đã được nghiên cứu tìm hiểu kỹ. Đây là hai loại tri thức: tri thức thực dụng và tri thức dữ kiện, chúng đề cao sự chính xác và hợp lý. Chẳng hạn một người nhìn con trâu. Người đó tin con trâu có một giá trị thực dụng. Tin như vậy vì người đó đã được biết sức khỏe của trâu. Nó có thể kéo gỗ, cày ruộng suốt ngày. Đó là là lối nhìn “duy thực chứng” giản lược thực tại vào những thực dụng của đối tượng. Nhưng nếu có một người chưa hề biết đến một con vật gọi là trâu, sau lần đầu tiên thấy nó, người đó chỉ thấy trâu trong chính tự thân của nó, rồi suy tư từ chính sự hiện hữu của nó. Đó là lối nhìn “duy hiện tượng”nghĩa là có tri thức dữ kiện qua quan sát. Thế giới của chúng ta bị giới hạn bởi hai loại tri thức này. Vì vậy nhận thức của chúng ta bị giới hạn vào sự vật và những hệ quả của nó.

Đức Tin hoàn toàn đi ra ngoài hai lối nhìn trên vì Đức Tin nhìn vào cõi vô hình. Chủ đề của Đức Tin là Thiên Chúa, Đấng vô hình, mặc dù Người là cội nguồn của sự sống và của mọi sự.

Tuy nhiên, theo lý luận, người ta vẫn cho rằng dù Đức Tin được Công Giáo gọi là gì, “nó” vẫn phải là một tri thức. Bởi vì nó phải có chủ đề và phải được minh xác rõ bởi tri thức. Đây là nguồn gốc của sự ngộ nhận về Đức Tin. Theo Công Giáo, Đức Tin tự bản chất là một ý chí tinh thần, Đức Tin không thể giản lược vào những kiến thức dẫn giải. Đức Tin không do con người suy nghĩ ra mà có, nhưng là một sự lựa chọn mà những ai theo Đức Giêsu không thể thoái thác.

Công Giáo “hình dung” Thiên Chúa là Logos (Chân lý).  Chân lý của cuộc sống không phải do con người tạo ra. Con người chỉ có thể lãnh nhận Logos. Do đó Đức Tin là sự lãnh nhận. Nói cách khác Đức Tin là tiếng nói “xin vâng” đáp lại lời kêu gọi của Logos.

Vì vậy Đức Tin không phải là hiểu những gì mình tin nhưng là hiểu ra rằng với khả năng hữu hạn, mình không thể nào nắm bắt được điều vô giới hạn. Đối tượng của Đức Tin là một Chân Lý ngoài tầm hiểu biết của mình. Theo Công Giáo, chỉ khi nào chúng ta tin, bấy giờ chúng ta mới có thể hiểu ra điều đó.

Đức Tin Là ...  

Đức Tin là tin vào Thiên Chúa, Đấng vô hình, Đấng mà con người không thể hình dung. Bởi vì con người không có bất cứ một khả năng nào để có thể tiếp cận với Đấng vô hình, vì vậy Đức Tin là yếu tố duy nhất phải có để con người hướng về Đấng vô hình. Chính vì vậy mà Công Giáo cho rằng Đức Tin là một mầu nhiệm.(2)

Qua biến cố Thiên Chúa nhập thế, bấy giờ con người mới có thể thấy, có thể đụng chạm đến Người. Từ đó mở ra một liên kết với Thiên Chúa qua Đức Giêsu. Từ đó Đức Tin có thể dẫn giải qua liên hệ với Đức Giêsu.

Bởi vì Đức Giêsu chính là Logos, là Ngôi Lời nên những lời giảng của Người chính là chân lý. Chân lý này tự bản chất không do con người suy nghĩ ra nhưng được nghe từ Đức Giêsu dạy cho biết. Suy ra Đức Tin có được nhờ nghe thấy (Rm 10:17). Công Giáo khảng định Đức Tin chỉ có nhờ “nghe”. Con người biết chân lý từ nghe, không phải do những suy tư triết học của con người nghĩ ra. Đức Tin là chấp nhận những gì mình nghe được dù mình không thể hiểu.

Mặc dầu trong Đức Tin có suy tư, nhưng là suy tư về nhưng gì mình nghe được. “Lời” đến với con người từ bên ngoài, thuần túy là lời mời gọi. Tôi (trong Đức Tin phải dùng danh xưng “tôi”) chỉ có thể đáp ứng bằng sự chấp nhận. Do đó tuy có suy tư nhưng không phải tôi muốn hiểu thế nào thì hiểu, hoặc muốn thay đổi Lời thế nào thì tùy ý.

Lời đến từ bên ngoài, là lời kêu gọi để tôi trả lời. Tôi đến với Lời qua Đức Tin không phải do suy nghĩ nhưng do đón nhận. Con đường dẫn đến Thiên Chúa không phải là hiểu mà là Đức Tin. Công Giáo gắn liền nghe với Ngôi Lời (Logos), cũng gọi là Lời của Chúa. Ngôi Lời là cội nguồn của mọi lời và là cùng đích của mọi lời.

Vị Thế của Đức Tin

Đức Tin là yếu tố chính – thậm chí là yếu tố duy nhất – để một người có thể đến được với Thiên Chúa và được cứu độ (Dt 11:6). Kinh Thánh đã nói rất rõ điều này.

Ai muốn đến với Thiên Chúa thì phải tin rằng Người hiện hữu. Không có Đức Tin thì không thể tìm kiếm được Thiên Chúa. (Dt: 11,6). “Chính nhờ lòng tin mà anh em được cứu độ. Điều ấy không phải do anh em, không phải do việc làm, để không ai có thể tự hào, mà do ân sủng của Thiên Chúa.” (Ep 2:8-9)  “Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai Tin vào Con của Người thì không phải chết mà được sống đời đời” (Ga 3:16, 36).

Khi viên sĩ quan ngoại giáo xin Đức Giêsu chữa bệnh cho con của ông đang nằm liệt giường ở nhà, Đức Giêsu  khen,  “Tôi nói cho các ông hay, ngay cả trong Israel cũng chưa thấy ai có một niềm tin mạnh mẽ như thế” (Mt 8:10). Ngay lúc đó con ông được khỏi bệnh. Viên sĩ quan này là người ngoại giáo, không theo luật Môsê, không cắt bì, không giữ ngày sabát… nhưng chỉ cần có Đức Tin vững mạnh để được Chúa chấp nhận và con ông được chữa lành.

Trong các Tin Mừng (đặc biệt của các thánh sử Mátthêu, Máccô, Luca) Chúa Giêsu thường nhấn mạnh đến Đức Tin của những người được chữa lành. Người nói với bà bị băng huyết, “Đức Tin của con đã chữa con” (Mt 9:22; Mc 5:39); với một thiếu nữ tội lỗi, “Đức Tin của chị đã cứu chị” (Lc 7:36-50); với người bị bệnh cùi, “Hãy về bình an, Đức Tin của anh đã cứu anh” (Lc 17:19); với người bị mù, “Lòng tin của anh dã cứu chữa anh” (Lc 18:42). 

Đức Giêsu lại lặp đi lặp lại vị thế của Đức Tin mỗi lần chữa lành. Suy ra Đức Tin là điều kiện để đón nhận ơn lành từ Thiên Chúa. Thiên Chúa muốn con người tham dự tích cực vào việc lãnh nhận ơn Chúa. Chỉ khi người đó có Đức Tin, tâm hồn người đó mới mở ra để đón nhận ơn của Thiên Chúa. Khi Đức Giêsu nói: “Đức Tin của con đã chữa con” – không phải tự Đức Tin có sức mạnh chữa lành, nhưng Đức Tin đã mở cửa cho ơn Chúa tuôn đổ xuống.

Theo thánh Thomas Aquinas, Đức Tin là điểm “khởi đầu” của sự sống đời đời; là hạt giống của sự hiểu biết vĩnh cửu mà chúng ta sẽ có về Thiên Chúa (gọi là Ơn Thị Kiến Vinh Phúc [Chiêm Nhan] – Beatific Vision – phần thưởng cho những người lên thiên đàng được chiêm ngưỡng Ba Ngôi Thiên Chúa và được thấu hiểu các mầu nhiệm). Tại trần thế, chúng ta chỉ thấy chân lý chìm trong bóng tối, còn trên Thiên Đàng chúng ta sẽ được thấy rõ và hiểu biết trọn vẹn.

Như vậy, chữa lành thân xác là dấu chỉ, còn lời “Đức Tin của con đã cứu con” nhắm đến sự cứu rỗi vĩnh cửu. Tóm lại vị thế của Đức Tin có thể cô đọng qua câu nói rất ngắn gọn của Chúa Giêsu, “Ta bảo các ngươi, ai tin vào Ta thì có sự sống đời đời.” (Ga 6:47)

Để Có Đức Tin

Làm sao để có Đức Tin? đó là nan đề của nhiều người. Trước hết chúng ta phải nhận diện cấu trúc của Đức Tin trong tâm trí của mình. Nói một cách đơn giản nhất, Đức Tin có 3 thành tố: ý thức hướng đến Thiên Chúa, lý trí và ý chí. Trong giới hạn của bài này, tôi xin đưa ra lời dạy của ba nhà thần học vĩ đại của Công Giáo.

Theo thánh Thomas Aquinas (1225-1274), Đức Tin là một nhân đức hướng đến Thiên Chúa (gọi là Nhân Đức Đối Thần - Theological Virtue). Có Đức Tin là khi lý trí (khả năng suy nghĩ, hiểu biết) của con người chấp nhận những chân lý được mặc khải (như Mầu Nhiệm Ba Ngôi, Mầu Nhiệm Nhập Thể). Rồi ý chí (lòng quyết tâm) giữ vững niềm tin đó. Tin không phải vì con người có thể hiểu và chứng minh bằng lý luận, mà vì ý chí của con người được ân sủng của Thiên Chúa thúc đẩy để chấp nhận điều đó (Lời Chúa). (Tổng Luận Thần Học - Summa Theologiae).(3)

Theo Karl Rahner (1904–1984) Thiên Chúa đã tự in dấu Mình vào cấu trúc tinh thần của con người. Do đó trong chiều sâu của linh hồn mỗi người đều có một tính “siêu việt” bẩm sinh (có thể hiểu là thần khí). Đó là lòng khao khát muốn vươn lên trên cái thế giới vật chất hữu hạn để hướng về một Mầu nhiệm Tuyệt đối (Transcendent Orientation – tức là Thiên Chúa). Khi biết khao khát một chân lý  toàn hảo là ta đang thực hiện một hành vi siêu việt. Đó là lý do tại sao con người có thể “tin” và có thể đón nhận Mặc khải. Đức tin là sự chấp nhận mầu nhiệm này và đồng thời là sự đáp trả có ý thức trước lời mời gọi siêu việt đó. Do đó Đức Tin là một quyết định phó thác trọn vẹn cho một Mầu Nhiệm không thể hiểu. Mầu nhiệm này đã được mặc khải nơi Chúa Giêsu Kitô.

Theo Joseph Ratzinger (Giáo Hoàng Benedict XVI. 1927–2022) Đức Tin không phải là một suy tư triết học mà là cuộc gặp gỡ giữa một cá nhân và Thiên Chúa. Trong thông điệp (Thiên Chúa là Tình Yêu - Deus Caritas Est), người viết: “Chúng ta không khởi sự đời sống Kitô hữu bởi một quyết định đạo đức hay một ý tưởng cao cả, nhưng bởi cuộc gặp gỡ với một một Người...”. Người đó chính là Chúa Giêsu Kitô. Đức Tin không phải là chấp nhận một tập hợp các quy tắc hay triết thuyết, mà là cuộc gắn bó bản thân của mình với Chúa Kitô. (xin được nói vắn tắt lại: Đức tin không phải là một ý tưởng, mà là cuộc gặp gỡ với Tình Yêu Thiên Chúa.) Do đó Đức Tin là một hành trình kéo dài suốt cuộc đời, luôn luôn ở trong trạng thái tìm kiếm và đối thoại, không bao giờ là một trạng thái tĩnh lặng.(4)

Tóm lại Thiên Chúa đặt vào tâm trí mỗi người một niềm khao khát tiềm ẩn về một chân lý hằng sống. Đức Tin là nhận ra chân lý đó. Tuy nhiên vì mình không thể hiểu được chân lý siêu việt đó nên phải do ý chí tự do của mình chấp nhận. Diễn tiến này cũng có thể cho thấy rằng nếu lý trí không chấp nhận chân lý mình nghe thì sẽ không có Đức Tin. Nếu lý trí chấp nhận nhưng không có ý chí duy trì thì cũng như hạt giống rơi trên đá (Lc 8:13).

Nội Dung Đức Tin

Nội dung của Đức Tin phải được rút ra từ kinh Tin Kính của các Tông Đồ.(5) Bản kinh này không phải là bản định nghĩa, hay liệt kê những chủ đề về Đức Tin mà chỉ là bảng chỉ đường dẫn vào Đức Tin.

Nguyên thủy kinh Tin Kính có dạng là những lời vấn đáp. Trong nghi lễ nhập Đạo, vị chủ tế hỏi người tân tòng, “Con có tin vào Thiên Chúa là Đấng toàn năng không?” Người tân tòng trả lời “Con tin” ... Nghi thức vấn đáp này là cấu trúc căn bản của Đức Tin. Tức là nghe thấy và đáp trả để đón nhận lời mình nghe.

Kinh Tin Kính mở đầu với lời khảng định “Tôi tin”. Đức Tin không thể mang tính chung chung để có thể nói “chúng tôi đều tin”. Đức Tin mang tính chủ vị và cá vị “tôi tin”. Bởi vì “tin” là sự thay đổi của chính cá nhân đang tuyên xưng “tôi tin”. Một cuộc hoán cải toàn diện ý nghĩa đời sống của cá nhân đó.  

“Tôi tin”, bởi vì Thiên Chúa là Đấng luôn luôn ở bên ngoài nhận thức của con người. Dù kỹ thuật khoa học có tiến bộ đến mức nào, dù năng khiếu của con người có thể cải thiện đến mức nào, Thiên Chúa vẫn không thể thấy trong thế giới được xác định bởi trí óc. Bởi vì thực tại không phải chỉ gồm những gì tôi thấy và hiểu. Do đó tâm trí con người chỉ có thể khởi đầu từ điểm “tôi tin” rồi mới vươn lên ra khỏi giới hạn của mình. Tin nghĩa là mặc dù tôi không thể hiểu, nhưng tôi tin có sự hiện diện của Thiên Chúa. Thiên Chúa là nền tảng của mọi hiện hữu và là ý nghĩa cho sự sống của nhân loại. Đó là một chân lý. Chỉ khi nào con người  nói “tôi tin”, bấy giờ chính Đức Tin mới khai mở sự hiểu biết về thực tại siêu việt mà trí óc không thể hiểu.

Nội dung của kinh Tin Kính nghiêng về giáo lý, qui định những điều phải tin. Kinh có 2 phần. Phần đầu nói về Thiên Chúa trong Ba Ngôi Vị. Phần 2 nói về Hội Thánh và sự sống lại của con người. Vì toàn thể bản kinh Tin Kính này các giáo hữu đều đã biết, thậm chí đã thuộc lòng, nên không nêu ra ở đây.

Kinh Tin Kính mở đầu bằng chứ “Tôi tin” và kết thúc bằng chữ “Amen” (đúng thật như vậy). Đó là sự tóm tắt vô cùng cô đọng cho một nền tảng vững chắc về ý nghĩa “Đức Tin”. Một sự xác định Đức Tin hướng về Logos (Chân lý) và không thể lạc qua lối khác.

Hơn ai hết Kitô hữu chúng ta phải ra khỏi khuynh hướng tri giác tự nhiên. Nghĩa là chỉ chấp nhận những gì mình có thể tri giác. Lối nhận thức đó chính là sự mù lòa của Đức Tin. Đức Tin không phải là một sự tin tưởng mù quáng, mà là sự tin tưởng chắc chắn dựa trên Lời của Thiên Chúa (theo danh xưng của Công Giáo là “Logos” hay “Ratio” nghĩa là chân lý), Đấng không bao giờ lừa dối. Đức Tin giúp con người được sống trong sự thật do Thiên Chúa mặc khải, dù những điều đó con người chưa nhìn thấy và hiểu rõ.(6) Đức Tin là cuộc gặp gỡ của một cá nhân với Tình Yêu Thiên Chúa (GH Benedict XVI trong thông điệp Deus Caritas Est). Do đó để có Đức Tin, người Kitô hữu phải duy trì một ý chí tự hoán cải tâm hồn trong suốt cuộc đời của mình.

---

(1) Kinh Kalama (thuộc Tăng Chi Bộ Kinh, Anguttara Nikāya 3.65) viết, “Này các Kalama, chớ vội tin một điều gì, chỉ vì đã nghe truyền thuyết. Chớ vội tin một điều gì thuộc về truyền thống. Chớ vội tin một điều gì vì được nhiều người nhắc đến hay tuyên truyền. Chớ vội tin một điều gì vì được ghi lại trong kinh điển. Chớ vội tin một điều gì vì thuộc về lý luận siêu hình. Chớ vội tin một điều gì vì phù hợp với lập trường của mình. Chớ vội tin một điều gì, khi nó căn cứ trên những dữ kiện hời hợt. Chớ vội tin một điều gì vì phù hợp với định kiến của mình. Chớ vội tin một điều gì vì được vũ lực và quyền uy ủng hộ. Chớ vội tin một điều gì vì được các nhà truyền giáo hay đạo sư của mình giảng thuyết.” Như vậy niềm tin của Phật giáo đến từ sự suy tư cân nhắc của chính mình.
(2) Từ xưa người Do Thái đã có ý niệm về Thiên Chúa là Đấng vô hình. Họ nhắc đến Thiên Chúa qua danh xưng YHWH. Danh xưng này chỉ là khái niệm giúp trí óc có thể hướng về Thiên Chúa, nhưng không thể gọi vì không có nguyên âm để đọc. Đây là một nhận thức rất độc đáo. Sau này ông Môise hỏi tên Chúa từ bụi gai bốc cháy, Người trả lời  “Ta là Đấng Hiện Hữu” (Xh 3:14). Do đó Thiên Chúa là đấng đang hiện diện nhưng không thể hình dung
(3) Yếu tố ý chí đã được chứng minh qua rất nhiều biến cố trong lịch sử. Với ý chí những cộng đoàn Kitô giáo phải sống ẩn núp vì nhưng cuộc bách hại cấm đạo. Các thánh tử vì đạo thà bị hành hạ đến chết chứ không chối Chúa. Một số vị thánh tốt lành nhưng bị thử thách mất Đức Tin. Đó là trường hợp của thánh Teresa Hài Đồng Giêsu, thánh Gioan Thánh Giá, thánh Teresa Calcuta. Các vị đã trải qua một thời gian mất niềm tin. Thần học gọi là tình trạng “đêm đen của linh hồn” (nguyên gốc là tựa đề bài thơ của thánh Gioan Thập Giá). Nhưng ý chí đã giúp họ vượt qua cơn thử thách. Sau đó Đức Tin trở lại với họ.
(4) Về điểm này chúng ta có thể coi thêm “ Dẫn Nhập Đức Tin Công Giáo”. Các chương I và II. Joseph Ratzinger.bản dịch cuả Nguyễn Quốc Lâm và Phạm Hồng Lam. Nxb Bayard Vietnam. 2022
(5) Bản kinh Tin Kính có từ thế kỷ II, chỉ là bản vấn đáp dành cho người tân tòng khi được rửa tội nhập đạo. Người đó phải trả lời vài câu hỏi căn bản như “Con có tin vào Thiên Chúa là Đấng toàn năng không?” Người tân tòng trả lời, “Con tin”.... “Con có tin Đức Giêsu là con Thiên Chúa không?”... “Con có tin vào Chúa Thánh Thần không?” Mỗi lần được hỏi như thế người tân tòng trả lời “Con tin” và được nhận chìm vào trong nước... Cho đến thế kỷ IV, qua Công đồng Nicene (Ni-xê) năm 325 mới có bản kinh Tin Kính hoàn chỉnh (không còn câu hỏi vấn đáp) và được lưu truyền cho tới ngày nay.
(6) Thánh Anselm (1033-1109) nói rằng “Tôi tin để được hiểu” (credo ut intelligam). Thánh Augustinô (354-430) cũng nói tương tự, “Tôi tin để hiểu và tôi hiểu để tin”.
.

Mục Lục

© 2025 NGUOI TIN HUU - All Rights Reserved.NGUOITINHUU