Đức Giêsu nói với các kỳ lão Do Thái, “Tôi bảo thật, những người thu thuế và những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông. Vì Gio-an đã chỉ đường công chính nhưng các ông không tin. Còn những người thu thuế và những cô gái điếm lại tin.” (Mt 21:31-32)
Chiêm niệm lời nói của Đức Giêsu, chúng ta không thể nào không nhớ đến một cô gái điếm ở Palestine. Người được tuyên xưng là Thánh Mary xứ Ai Cập. (1)
Zosimas (460-560) người Palestine, gia nhập dòng tu khổ hạnh khi còn rất trẻ. Tu viện nằm nơi hoang địa gần sông Jordan. Ông đã sống suốt đời ở đó. Theo tập tục của đan viện, mỗi năm vào mùa Chay, các tu sĩ phải đi vào sa mạc sống một mình trong 40 đêm ngày. Họ phải ăn chay, cầu nguyện và chiến đấu với mọi sự cám dỗ. Năm Zosimas 53 tuổi, như thường lệ, ông vào sa mạc sam hối tội lỗi. Ông đi lang thang được 20 ngày, khoảng giữa trưa, ông thấy từ xa một bóng người đang di chuyển. Người đó thấy ông bèn vụt chạy trốn. Ông ngạc nhiên khi thấy trong sa mạc lại có người. Ông đuổi theo bóng đen đến mức kiệt sức, ông kêu lớn: “Xin vì danh Chúa, xin dừng lại. Sao người chạy trốn?”
Khi khoảng cách gần hơn, ông thấy đó là một người, da cháy đen vì nắng sa mạc, thân hình khô héo, tóc bạc trắng dài quấn quanh người. Người này lên tiếng “Cha Zosimas, xin tha lỗi cho con. Con không thể quay mặt lại vì con là một người nữ khỏa thân.”
Zosimas bèn ném áo choàng của mình qua cho bà. Bà quấn lấy để che thân, rồi quay lại, quỳ xuống xin ông ban phép lành. Nhưng Zosimas cũng quỳ xuống và xin bà chúc lành cho mình. Họ tranh nhau xin phép lành của nhau, cuối cùng, bà nói “Abba Zosimas, chính cha mới là người chúc lành và cầu nguyện, vì cha là tư tế, đã dâng Hy Tế Thánh Thể trong nhiều năm.” Zosimas kinh hoàng vì bà biết tên ông và còn biết ông là linh mục.
Ông khóc và nói: “Ôi mẹ thiêng liêng, rõ ràng từ cách sống của mẹ, mẹ đã sống với Thiên Chúa và chết đối với thế gian rồi…”
Bà khiêm tốn từ chối, rồi chắp tay cầu nguyện. Zosimas thấy trong lúc cầu nguyện, thân thể bà nâng lên khỏi mặt đất bay lơ lửng trong không trung. Ông hoảng sợ, quỳ sụp xuống liên tục kêu, “Lạy Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi”.
Với lòng khiêm nhường và xấu hổ sâu sắc, bà xin Zosimas tha thứ vì phải nói về những điều ô nhục của đời mình.
“Thưa cha, con chưa cho ai biết cuộc đời của con. Cha là người duy nhất con xin kể. Tên con là Mary, quê hương con là xứ Ai Cập. Khi lên 12 tuổi, con từ bỏ gia đình ở làng quê lên Alexandria, nơi thành thị sa hoa, để được tự do sống không kiềm chế thỏa mãn dục vọng xác thịt. Con đã sống như vậy trong 17 năm, xin cha tha thứ cho con. Con sống dâm loạn công khai không phải vì tiền bạc mà chỉ để thỏa mãn xác thịt. Con không từ chối bất kỳ ai, giàu hay nghèo, trẻ hay già, nô lệ hay tự do. Con sẵn sàng với tất cả mọi người để thỏa mãn đam mê bất chính của mình.
“Một mùa hè nọ, con thấy một đoàn người hành hương đến từ Libya và Ai Cập. Họ chuẩn bị đi tàu đến Giêrusalem để dự lễ Suy Tôn Thánh Giá. Con lên tàu cùng họ, không phải vì lòng mộ đạo hay hành hương, mà chỉ vì con muốn tìm thêm nhiều đàn ông mới để thỏa mãn dục vọng.
“Khi đến Giêrusalem, vào ngày lễ, con theo đám đông đến nhà thờ để tôn thờ Thánh Giá Chúa. Nhưng khi con bước vào đền thánh, một lực vô hình đẩy con ra ngoài. Con thử nhiều lần nhưng đều bị đẩy lui. Cuối cùng, con nhận ra rằng chính tội lỗi của con đã ngăn cản mình.
“Con đứng ở góc sân nhà thờ, khóc lóc thảm thiết, đấm ngực ăn năn. Rồi con nhìn thấy bức ảnh Đức Mẹ Maria. Với lòng khiêm hạ, con cầu xin: ‘Lạy Đức Mẹ chí thánh, xin thương xót con, kẻ tội lỗi. Xin cho con được vào nhà thờ để tôn thờ Thánh Giá Chúa. Con hứa sẽ từ bỏ thế gian và mọi cám dỗ của nó. Con sẽ đi bất cứ đâu mà Mẹ dẫn dắt.’
“Sau lời cầu nguyện chân thành, con thử lại và lần này đã vào được nhà thờ. Con tôn thờ Thánh Giá với lòng sám hối sâu xa. Sau đó, con trở lại trước hình Đức Mẹ để tạ ơn. Con nghe thấy có tiếng nói từ trên cao, ‘Nếu ngươi qua sông Jordan, ngươi sẽ tìm thấy sự nghỉ ngơi vinh quang.’
“Tối hôm đó, con đến một nhà thờ nhỏ gần sông Jordan, xưng tội, rước Thánh Thể, rồi qua sông sang bờ bên kia đi vào sa mạc. Con chỉ mang theo ba ổ bánh mua được bằng tiền ăn xin. Từ đó, con sống cô đơn trong sa mạc hoang vu này đã 47 năm.
“Những năm đầu thật khủng khiếp. Con chiến đấu không ngừng với những cơn cám dỗ xác thịt. Đôi khi con tưởng như bị thiêu đốt bởi lửa dục vọng. Con ngã xuống đất khóc lóc, cầu xin Đức Mẹ giúp đỡ. Con ăn rất ít, ban đầu là bánh khô, sau chỉ là cỏ dại và những gì thiên nhiên cho phép. Cơ thể con khô héo, da rám nắng, tóc bạc trắng. Quần áo con mục nát hết, con phải lấy tóc che thân. Nhưng linh hồn con dần được thanh tẩy nhờ ân sủng Chúa và sự ăn năn liên lỉ.
“Con chưa từng gặp ai kể từ ngày vào sa mạc. Con không đọc sách, không nghe ai giảng dạy, nhưng Lời Chúa và ân sủng đã dạy dỗ con mọi sự.”
Mary kết thúc phần kể bằng lời khiêm tốn:
“Thưa cha, con là kẻ tội lỗi nặng nề nhất. Xin cha cầu nguyện cho kẻ hèn mọn này. Xin cha qua năm sau, vào ngày Thứ Năm Tuần Thánh, cha mang Mình Thánh Chúa đến tại bờ phía tây của sông Jordan, để con được nhận lãnh Mình Thánh Chúa.”
Zosimas lắng nghe và khóc ròng vì xúc động.
Sau 40 ngày sống trong sa mạc, Zosimas trở về tu viện. Ông không dám kể lại câu chuyện này với bất cứ ai. Trong lòng ông chỉ mong đến ngày hẹn để gặp lại người đàn bà trong sa mạc.
Vào mùa chay năm sau, vào đúng ngày hẹn, ngày Lễ Tiệc Ly, thì Zosimas bị bệnh. Ông cố gượng dậy mang Mình Thánh Chúa và một chai nhỏ đựng nước phép rồi đến điểm hẹn. Khi tới bờ sông Jordan thì trời đã tối. Ông bật khóc nghĩ mình đến trễ, vì lỡ hẹn nên bà đã bỏ đi. Vả lại dù bây giờ bà có đến, nhưng trời đã tối làm gì còn thuyền chở khách qua sông.
Bỗng Zosimas thấy Mary xuất hiện ở bên kia bờ sông. Dưới ánh trăng, ông thấy bà làm dấu Thánh Giá trên mặt nước. Rồi bà bước thẳng xuống nước và đi trên mặt sông như đi trên đất khô, tiến về phía ông.
Zosimas kinh ngạc ông định quỳ xuống bái lạy, nhưng từ phía xa bà vừa đi trên nước vừa la lên,
“Abba Zosimas, đừng quỳ, ông là tư tế, đang mang Ân Huệ Thánh Thể của Chúa.”
Khi đến nơi, bà quỳ xuống xin phép lành. Zosimas run rẩy vì xúc động trước phép lạ, ông nói: “Thật sự Thiên Chúa không lừa dối khi Người hứa rằng ai thanh tẩy mình sẽ nên giống Người…”
Mary đọc Kinh Tin Kính và Kinh Lạy Cha, rước Thánh Thể với lòng sốt sắng. Sau khi rước lễ, bà đưa hai tay lên trời, nước mắt giàn giụa và đọc lời của ông già Simeon, “Lạy Chúa, giờ đây xin cho tôi tớ Chúa ra đi bình an, vì mắt con đã thấy ơn cứu độ của Ngài.”
Bà xin Zosimas năm sau quay lại gặp bà đúng chỗ gặp nhau lần đầu. Bà làm dấu Thánh Giá trên sông Jordan, bước xuống nước và đi trở lại bờ bên kia, rồi biến mất trong sa mạc đen tối.
Zosimas đứng ngẩn ngơ, vừa kinh ngạc vừa cảm tạ Chúa vì đã được chứng kiến một ân sủng phi thường nơi một con người từng là tội nhân.
Zosimas trở về tu viện và vẫn giữ kín chuyện này. Một năm sau, ông trở lại sa mạc vào Mùa Chay, ông vào sa mạc đến đúng chỗ gặp bà lần đầu tiên. Ông phát hiện ra thi hài của bà đã nằm trên mặt đất, hai tay bắt chéo trên ngực, mặt hướng về phía Đông (hướng Giêrusalem). Bên cạnh đầu của bà có dòng chữ viết trên cát: “Abba Zosimas, hãy chôn cất thi hài nhỏ bé của Mary. Hãy trả bụi đất về cho đất. Hãy cầu nguyện cho con trước mặt Chúa, Đấng đã gọi con ra đi vào ngày con rước mình thánh Chúa, ngày hai tháng Tư.”
Zosimas bật khóc, ông muốn chôn cất bà, nhưng vì già yếu, không có cuốc xẻng, đất sa mạc lại cứng và khô. Ông lo lắng không biết làm sao để đào huyệt.
Bỗng có một con sư tử rất lớn xuất hiện. Nó từ từ tiến lại gần thi hài của bà. Zosimas hoảng sợ lùi lại, nhưng con sư tử cúi đầu liếm bàn chân của bà một cách dịu dàng và cung kính (như đang tôn thờ). Zosimas hiểu ra đây là ơn Chúa sai đến, ông nói với con sư tử, “Sư tử ơi, người thánh này đã truyền cho tôi chôn cất bà. Nhưng tôi già yếu, không đào nổi huyệt, lại chẳng có cuốc. Xin con dùng vuốt đào giúp chúng tôi một huyệt xứng đáng để chôn cất thi hài thánh này.”
Con sư tử bèn dùng hai vuốt trước đào một huyệt sâu và rộng vừa đủ. Khi huyệt xong, nó đứng sang một bên như một con chiên hiền lành.
Zosimas rửa chân bà bằng nước mắt, dùng chiếc áo choàng ông từng tặng bà (chiếc áo duy nhất che thân bà) để quấn một phần thi hài, rồi chôn cất bà trong sự hiện diện của con sư tử. Sau khi chôn xong, con sư tử liếm tay Zosimas một cách dịu dàng, rồi thong thả quay lưng đi vào sa mạc.
Zosimas trở về tu viện, kể lại toàn bộ câu chuyện cho các tu sĩ khác nghe. Sau khi Zosimas qua đời, thánh Sophronius, Thượng phụ Giêrusalem ghi lại lời kể của chính Thánh Zosimas. Từ đó tiểu sử Thánh Mary Ai Cập được lưu truyền.(2)
Thánh Mary Ai Cập, một người từng sống nhiều năm trong tội lỗi nặng nề, nhưng vẫn có thể trở nên thánh qua sự sám hối. Bà đã minh chứng lời nói của Đức Giêsu răn bảo những kỳ lão Do Thái. Không có tội lỗi nào lớn đến mức không thể được Chúa tha thứ, nếu có lòng hối cải, thực sự ăn năn. Cuộc đời của thánh nữ Mary Ai Cập là gương mẫu cho chúng ta về ý chí hối cải và cầu nguyện trong sự trợ giúp của Đức Mẹ Maria.