Ngôn sứ Đaniel, qua một thị kiến, cho biết: tôi thấy một Đấng như “Con Người” (Son of Man)... “từ mây trời mà đến”. Đấng ấy được ban cho quyền thống trị muôn dân (Dn 7:13-14).
Khi đi rao giảng Tin Mừng, Đức Giêsu đã tự xưng mình là “Con Người”(1). Danh xưng ấy là một mạc khải cho nhân loại biết chính Đức Giêsu là Đấng đã được Đaniel tiên báo. Đức Giêsu là Đấng vừa mang thiên tính (đến từ mây trời) vừa mang nhân tính (Con Người).
Vào thời các thánh Tông Đồ danh xưng “Con Người” không có gì vướng mắc, kể cả trong lãnh vực thần học lẫn triết học. Tuy nhiên, không dễ gì để dân chúng có thể đón nhận mặc khải từ Thiên Chúa. Qua những thể kỷ kế tiếp, danh xưng “Con Người” đã tạo ra rất nhiều rắc rối trong sự nhận diện căn tính của Đức Giêsu. “Con Người” thật sự là ai? câu trả lời đã bị đẩy qua lãnh vực suy tư của trí óc phàm nhân. Khi Công Giáo được loan truyền qua những xứ “dân ngoại”, hiện tượng Đức Tin được họ đón nhận qua lăng kính văn hóa địa phương của họ là điều không thể tránh được. Do đó đã có khá nhiều ngộ nhận xảy ra (2).
Trong cuối thế kỷ I và đầu thế kỷ II, một số nhóm Kitô giáo sơ khai vùng Syria, Ai Cập, và Tiểu Á (Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay), đã đưa ra thuyết “Ảo Ảnh” (Docetism - bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp dokein nghĩa là "có vẻ như") (3). Thuyết này cho rằng Đức Giêsu không phải là người phàm thật. Xác phàm của Người chỉ là dạng “ảo ảnh” (appearance, illusion).
Thuyết Ảo Ảnh ra đời là do ảnh hưởng từ thuyết Nhị Nguyên Luận của triết học Hy Lạp. Theo thuyết này, có 2 thế giới tách biệt nhau: tinh thần và vật chất. Thế giới tinh thần/linh hồn thì thánh thiện, tốt đẹp và hoàn hảo. Thế giới vật chất/xác phàm thì xấu xa, tồi tệ và là nguồn gốc của tội lỗi.
Vì Đức Giêsu là Đấng thánh thiêng và thiện hảo, Người không thể tự làm ô uế mình bằng cách mang một xác phàm vật chất, tội lỗi, hư nát và thấp hèn. Vì vậy Đức Giêsu không có thân xác bằng xương thịt thật sự. Xác phàm của Người chỉ là “ảo ảnh”. Những gì người ta nhìn thấy—Người ăn uống, đi lại, chịu đóng đinh và chết trên thập giá—chỉ là “ảo ảnh của thị giác”, một dạng vỏ bọc “dường như” (appearance) là một con người mà thôi. Chúa Giêsu không hề trải qua những việc đó theo nghĩa vật chất thật sự.
Vào thế kỷ IV, Arius (256–336) một linh mục người Libya, sống tại Alexandria (Ai Cập), đưa ra quan điểm phủ nhận Đức Giêsu là Thiên Chúa mà chỉ là một thụ tạo. Thuyết Ario (hay Ariansism) ra đời và gây ra một ảnh hưởng rất lớn. Giáo dân, giám mục trong nhiều vùng, kể cả một số vua chúa cũng tin theo Arius.
Theo thuyết Ario, chỉ có Thiên Chúa Cha là Đấng Duy Nhất vô thủy vô chung, là nguồn gốc tuyệt đối của mọi sự.
Con Thiên Chúa (Lời Chúa, Đức Giêsu) không phải là Thiên Chúa vĩnh cửu. Người được Thiên Chúa Cha “tạo dựng” ra từ hư vô. “Có một thời gian Con chưa hiện hữu” (There was a time when the Son was not).
Tuy Đức Giêsu được Thiên Chúa sinh ra đầu tiên (“trưởng tử”) và cao trọng nhất trong mọi tạo vật, nhưng Người vẫn là thụ tạo. Do đó Đức Giêsu không thật sự là Thiên Chúa mà là một người phàm.
Suy ra “Con” không đồng bản thể với “Cha”. Con “giống bản tính của Cha” (homoiousios), chứ không “đồng bản thể” (homoousios) với Cha.
Đại diện cho khuynh hướng tin rằng “Chúa Giêsu có hai ngôi vị” là lạc giáo Nestorius.
Khoảng năm 420, Nestorius (386–450) Tổng Giám mục của Constantinople đã phổ biến niềm tin rằng Đức Giêsu Kitô có hai bản tính: thần linh và người phàm. Vì vậy Đức Giêsu Kitô cũng có “hai ngôi vị” (persons - hypostasis) riêng biệt, đồng thời cũng có hai bản thể (ousia).
Theo Nestorius:
• Con người phàm của Đức Giêsu chỉ như là một đền thờ để Ngôi Lời (Thiên Chúa) ngự trong đó. Ngôi Lời Thiên Chúa không hợp nhất thực sự với bản tính người (nhân loại) của Đức Giêsu.
• Đức Giêsu có hai bản tính “hiện hữu” biệt lập, không “hiệp nhất” với nhau thành một ngôi vị duy nhất. Sự liên kết của hai bản tính “Ngôi Lời Thiên Chúa” và “người phàm Giêsu”chỉ có tính cách đạo đức (moral union) mà thôi.
Sabellius là nhà thần học sống vào đầu thế kỷ 3 (khoảng năm 200–220), có lẽ xuất thân từ Libya, hoạt động chủ yếu tại Rome. Ông là đại diện tiêu biểu cho khuynh hướng thần học “thuyết Duy Nhất” (Monarchianism), đề cao tính Duy Nhất của Thiên Chúa. Theo thuyết này chỉ có một Thiên Chúa duy nhất nên chỉ có một Ngôi Vị (một Người).
Ba Ngôi (Cha, Con, Thánh Thần) không phải là ba ngôi vị riêng biệt, mà chỉ là ba cách biểu lộ khác nhau qua ba “mô thức” (modes) của cùng một Thiên Chúa (4). Theo Sabellius, Thiên Chúa xuất hiện dưới ba vai trò kế tiếp nhau:
1) Là Cha: Trong Cựu Ước, Đấng tạo dựng vũ trụ. 2) Là Con: Trong thời Tân Ước, Đấng nhập thế làm người, chịu chết trên thập giá. 3) Là Thánh Thần: Sau khi Chúa Giêsu về trời, ngự trong Giáo hội và thánh hóa các tín hữu.
Khi một “mô thức” xong sứ vụ thì chuyển sang mô thức khác. Ví dụ: Khi Con hoàn tất công việc cứu chuộc thì Người “trở lại” là Cha hoặc Thánh Thần.
Một hệ quả cực đoan của học thuyết này là quan điểm “Cha chịu khổ” (Patripassianism). Vì Cha và Con chỉ là một, nên chính “Thiên Chúa Cha đã chịu đóng đinh” trên thập giá.
Tất cả những khuynh hướng suy nghĩ nêu trên, theo thần học, đều là “lạc giáo Kitô học” (Christological heresies). Chúng phát sinh từ lối suy nghĩ hạn hẹp của trí não con người. Chúng đã dẫn đến lối nhìn sai lạc về mầu nhiệm nhập thể của Chúa Giêsu.
Arius dựa vào câu Châm Ngôn 8:22 “Chúa đã tạo dựng tôi từ thuở ban đầu” mà cho rằng Chúa Con là “thụ tạo” vì có chữ “tạo dựng”. Thực ra trong ngôn ngữ Hebrew (tiếng Do Thái cổ), động từ “qanah” có nghĩa chính là “sinh ra”, không nhất thiết phải hiểu là “tạo dựng”. Thánh kinh bản Septuagint (bản 70) (5) nói rằng “Sự Khôn Ngoan” (Wisdom) được “ektisen” (sinh ra) từ thuở đời đời, không phải được “tạo dựng”. Chúa Giêsu chính là sự Khôn Ngoan của Thiên Chúa. Đây mới là hình ảnh chân thực về “sự sinh ra từ vĩnh cửu” của Ngôi Lời. Thánh Athanasius nhấn mạnh: nếu Con được “tạo dựng”, vậy trước khi Con được tạo dựng, Cha không có Khôn Ngoan hay sao? Đó là điều vô lý.
Chính Phúc Âm cho biết “Nhờ Người mà muôn vật được tạo thành… Tất cả đều được tạo dựng nhờ Người và trong Người” (Cl 1:16). Nếu Đức Kitô là “thụ tạo”, Người không thể là Đấng tạo dựng ra “tất cả muôn vật”. Do đó quan niệm cho rằng Đức Giêsu là “thụ tạo” đầy mâu thuẫn về logic.
Arius cho Đức Giêsu chỉ là “trưởng tử” của tất cả những gì được tạo dựng” (Cl 1:15). Trong thần học, danh xưng “Trưởng tử” (prototokos) mang ý nghĩa “ưu tiên, chủ quyền”, không phải chỉ có nghĩa là “được sinh ra đầu tiên theo thời gian”. Giống như Israel được gọi là “trưởng tử” của Chúa (Xh 4:22), nhưng không thể nói Israel là tạo vật được sinh ra đầu tiên.(6)
Thánh Ignatio Antiokia, Thánh Ireneus, Thánh Gioan (7), Công đồng Nicea (325) và Công đồng Constantinople (381) đều lên án quan điểm thân thể của Đức Giêsu chỉ là ảo ảnh (thuyết Docetism). Tín Điều Nicea được soạn ra để chống lại điều này. Nếu Đức Giêsu không có xác phàm, Người đã không thực sự đau đớn trên thập giá, không thực sự chết và cũng không thực sự sống lại. Điều này khiến cho giáo lý cứu rỗi của Kitô giáo trở nên vô nghĩa.
Nhà Thần học Tertullian (155-220) (8) trong tác phẩm Adversus Praxeam (Chống lại Praxeas - Against Praxeas) - Praxeas được coi như là người đại diện cho nhóm thuyết mô thức (Modalism) - ông phân tích rằng:
• Trong biến cố phép rửa của Đức Giêsu, có Cha nói ở trên trời, có Con đứng ở dưới sông, có Thánh Thần ngự xuống như chim bồ câu (Mt 3:16-17). Như vậy rõ ràng là có Ba Ngôi tương quan với nhau thật sự cùng một lúc. Do đó không phải Thiên Chúa chỉ có một Ngôi thay phiên nhau xuất hiện qua ba mô thức.
• Trên Thập Giá, Đức Giêsu than: “Lạy Cha, sao Cha bỏ con?” (Mt 27:46). Sự kiện này Không thể hiểu là một ngôi vị tự nói với chính mình. Nếu Cha và Con chỉ là một ngôi vị, thì cầu nguyện với chính mình là vô lý.
Thánh Hippolytus thành Rome (khoảng 170–235) cũng chống lại nhóm Modalism. Ông biện luận rằng nếu chỉ có một Ngôi Vị, thì mầu nhiệm Nhập Thể trở nên vô nghĩa. Bởi vì ai là Đấng sai Con đến thế gian? Ai là Cha để Con trở về? Niềm tin của nhóm Mô Thức tạo ra một hệ quả logic nguy hiểm, vì nó cho rằng “Chính Thiên Chúa Cha chịu đóng đinh”.
Lập luận cho rằng Ngôi Cha lớn hơn Ngôi Con về bản tính là lối suy nghĩ thiển cận trần thế. Công Đồng Nicea và Chalcedon đã đưa ra nền tảng Đức Giêsu có hai bản tính: Thiên Chúa và người phàm. Theo bản tính Thiên Chúa thì Con bằng Cha (“Tôi và Cha là một”- Ga 10:30); theo bản tính nhân loại Con thấp hơn Cha vì Con tự hạ mình (kenosis) làm người phàm để thi hành sứ vụ cứu chuộc nhân loại (Pl 2:6-8).
Lập luận cho rằng chỉ có Cha là Thiên Chúa thật, Con không phải. Phúc Âm khảng định “Ngôi Lời là Thiên Chúa” ( “Theos en ho Logos” - Ga 1:1 ). “Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa thật” (1 Ga 5:20). Tông đồ Tôma tuyên xưng Đức Giêsu “Lạy Chúa tôi, lạy Thiên Chúa của tôi” (Ga 20:28).
Để làm rõ nghĩa căn tính của Đức Giêsu, Công đồng Chalcedon (năm 451) tuyên xưng giáo lý:
• Đức Giêsu Kitô có bản thể (substance) là Thiên Chúa. Có Ngôi Vị (hypostasis - person) là Ngôi Hai Thiên Chúa (Lời Thiên Chúa nhập thể) trong 3 ngôi vị của Thiên Chúa.
• Đức Giêsu Kitô có Hai bản tính (nature):
Hai bản tính này
Dẫn chứng trong Tin Mừng:
Ngoài cá nhân các giáo phụ lên án lạc giáo, Giáo Hội chính thức bảo vệ Đức Tin Công Giáo qua các Công Đồng Nicea (năm 325), Công đồng Constantinopolis (năm 381) và Công Đồng Chalcedon (năm 451). Những Công Đồng này chính thức kết án những nhóm đi ra ngoài giáo lý Công Giáo là tà giáo. Những ai theo tà giáo đều bị vạ tuyệt thông.
Để thống nhất giáo lý về căn tính của Chúa Kitô, công đồng Nicea (năm 325) đã đưa ra bản Kinh Tin Kính (được gọi là Kinh Tin Kính Nicea - Symbolum Nicaenum) (9). Đức Giêsu Kitô “Người là Thiên Chúa bởi Thiên Chúa, Ánh Sáng bởi Ánh Sáng, Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật, được sinh ra mà không phải được tạo dựng, đồng bản thể (homoousios) với Đức Chúa Cha.”
Bản kinh Tin Kính Nicea, sau đó, được Công đồng Constantinopolis tu chính lại nên được gọi là “Kinh Tin Kính Công đồng Nixêa Constantinopoli”. Bản kinh này được lưu truyền cho tới ngày nay chung cho cả Giáo Hội Tây Phương và Đông phương (GLCG 195).
Tôi xin đúc kết những khái niệm trừu tượng về “bản thể, bản tính, ngôi vị” qua dẫn chứng sau. Chúng ta có thể nói “Đức Giêsu là Thiên Chúa”, tuy nhiên không thể theo lý luận thông thường nói ngược lại “Thiên Chúa là Đức Giêsu”. Trong logic thần học, hai mệnh đề này không thể hoán đổi cho nhau.
Mệnh đề 1: "Đức Giêsu là Thiên Chúa". Chữ "là" ở đây mang nghĩa “đồng bản thể” (consubstantial/homoousios). Mệnh đề mang chủ ý Đức Giêsu có đầy đủ 100% bản thể thần linh. Người không phải là một vĩ nhân được "thần thánh hóa", cũng không phải là một vị bán thần, mà chính là Thiên Chúa thật.
• Kinh Thánh đã khẳng định. "Ngôi Lời là Thiên Chúa... Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta" (Ga 1,1.14). Chính Đức Giêsu đã nói, “Quả thật, Ta bảo thật, trước khi có Abraham, Ta đã hiện hữu” (Truly, truly, I say to you, before Abraham was, I am) (Ga 8:58).
Mệnh đề 2: "Thiên Chúa là Đức Giêsu". Câu này sẽ đẩy chúng ta rơi vào hai lỗi nghiêm trọng về cả logic lẫn thần học.
1) Lỗi về logic (lý luận). Đó là lỗi “nhầm lẫn về tính đồng nhất” (Identity fallacy). Đức Giêsu là ngôi vị Thiên Chúa, nhưng không bao hàm toàn bộ ngôi vị Chúa Cha và Chúa Thánh Thần. Thí dụ, ta có thể nói "vàng là kim loại", vì vàng mang đầy đủ đặc tính của kim loại. Nhưng ta không thể nói đảo ngược "kim loại là vàng", vì ngoài vàng kim loại còn có sắt, đồng, nhôm... Vàng không đại diện cho toàn bộ các thể kim loại.
2) Lỗi về nguyên lý thần học. Nếu nói "Thiên Chúa là Đức Giêsu" Thiên Chúa sẽ bị giới hạn vào một ngôi vị độc nhất là Đức Giêsu. Thiên Chúa là Đấng vô hạn, vượt ra ngoài không gian và thời gian. Đức Giêsu Kitô khi nhập thể đã mang thêm một bản tính nhân loại (hữu hạn, có sinh ra, có chịu chết). Nếu nói "Thiên Chúa là Đức Giêsu", ta vô tình "nhốt" toàn bộ sự vô hạn của Thiên Chúa vào trong giới hạn của một con người sống trong lịch sử. Đồng thời phá vỡ cấu trúc Thiên Chúa Ba Ngôi. Nhóm lạc giáo Mô Thức (Modalism/Sabellianism) đã rơi vào lỗi lầm này.
Bây giờ chúng ta đã thấy ý nghĩa rõ ràng về những khái niệm "ngôị vị" (person), "bản thể" (substance) và “bản tính” (nature). Đức Giêsu có một bản thể (Thiên Chúa). Đức Giêsu có một ngôi vị (là Thiên Chúa Ngôi Hai). Đức Giêsu có hai bản tính (một bản tính người, một bản tính Thiên Chúa).
• Nếu Đức Giêsu chỉ mang bản tính người phàm. Cuộc tử nạn của Người chỉ là cái chết của một người công chính, nên không thể cứu chuộc ai. Dù Người có hy sinh mạng sống vì một ý hướng tốt đẹp, thành quả này cũng không có giá trị vô hạn và vĩnh cửu.
• Nếu Đức Giêsu chỉ mang bản tính Thiên Chúa. Người là Đấng thần linh thuần túy. Người không thể chia sẻ với nhân loại những nỗi khổ đau, đói khát và không thể chết. Người cũng không từ cõi chết sống lại.
Bởi vì Đức Giêsu có hai bản tính nên mầu nhiệm cứu độ mới được thể hiện.
Nói chung nhờ Công Đồng Nicea mà những danh xưng “bản thể” (substance/substantia), “bản tính” (nature/ natura), và “đồng bản thể” (consubstantial/homoousios) mới được đặt ra. Từ đó những khái niệm về mầu nhiệm nhập thể mới được rõ nghĩa.
Linh mục Ronald Rolheiser, một nhà giảng thuyết nổi tiếng, đưa ra một kinh nghiệm lý thú. Ông dùng danh xưng “Chúa Kitô” khi nói về bản tính Thiên Chúa và dùng danh xưng “Chúa Giêsu” khi nói về bản tính con người của Đức Giêsu (10). Tuy lối dùng chữ này không phải là một công thức chung nhưng cũng biểu lộ tính cá biệt về ý nghĩa của thuật ngữ “bản tính”.
Đã có lần, Đức Giêsu hỏi các Tông Đồ “người ta nói Con Người là ai?” Các ông thưa: kẻ thì nói là ông Gioan Tẩy Giả, kẻ thì bảo là ông Êlia, có người lại cho là ông Giêrêmia hay một trong các vị ngôn sứ. Đức Giê-su lại hỏi, “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?” Ông Phêrô thưa: “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống.” (Mt 16: 13-18).
Rõ ràng Đức Giêsu cho thấy có hai hướng nhìn để biết về Người. Hiện tượng hoang mang này vẫn còn tồn tại đến ngày nay.
Đức Giêsu cũng xác nhận rằng tự bản thân Phêrô không thể nào biết được căn tính của Người. Chính nhờ Chúa Cha mạc khải, nên Phê-rô mới biết. Tín hữu chúng ta vẫn cần phải có mạc khải khi hướng về mầu nhiệm cứu độ của Chúa Giêsu Kitô. Đấng vừa là Tạo Hóa vừa là người phàm. Chúng ta duyệt lại những giáo lý của Hội Thánh để thấy công sức bảo vệ đức tin qua các thời đại và để có một nhận thức đứng đắn về những gì mình tin.