Tại Sao Chúng Tôi Là Người Công Giáo

TẠI SAO CHÚNG TÔI BẢO VỆ HÔN NHÂN

Trent Horn – Dịch giả: Pt. Giuse Trần Văn Nhật

PHẦN 5: LUÂN LÝ & ĐỊNH MỆNH

Một vài năm trước đây khi tôi nghiên cứu vấn đề hôn nhân và tình cờ gặp mẩu phim của chương trình truyền hình Sesame Street. Đó là một đối thoại giữa một bé trai tên là Jessie và nhân vật Grover. Phim bắt đầu với câu hỏi của Grover, “Mày có biết hôn nhân là gì không, Jessie?” và nó tiếp tục như thế này:
Jessie: Một hôn nhân là khi hai người kết hôn?
Grover: Phải. Tốt lắm. Đó là hôn nhân. Họ làm gì khi kết hôn?
Jessie: Hôn nhau.
Grover: Họ hôn nhau, đúng; họ còn làm gì khác khi kết hôn?
Jessie: Họ ôm nhau.
Grover: Tốt lắm. Tốt lắm. Còn gì khác nữa?
Jessie: Hết rồi.
Grover: Chỉ có vậy sao?
Jessie: Phải.
Grover: Họ còn là bạn nữa chứ?
Jessie: Phải.
Grover: Ô, vậy có nhiều thứ trong hôn nhân, có phải không? Hôn nhau, ôm nhau, bạn của nhau, giúp nhau, đủ mọi thứ. Phải. Vậy, tao nghĩ đó là tất cả những gì về hôn nhân.

Nhưng đó không phải là tất cả những gì về hôn nhân. Tại sao Grover không nói về lời thề là “thành thật với nhau,” trong “lúc thịnh vượng cũng như lúc gian nan, lúc bệnh hoạn cũng như lúc mạnh khỏe,” cho đến khi “sự chết chia lìa chúng ta”? Tại sao không nhắc gì đến việc sinh con và trở nên một gia đình? Điều Sesame Street diễn tả thì không phải là hôn nhân; đó là sự sống chung.

Ngược lại, Giáo Hội Công Giáo định nghĩa hôn nhân là “giao ước kết hôn mà qua đó một người nam và một người nữ thiết lập giữa họ một sự hợp tác cả đời, và bản chất hôn nhân được đặt định cho sự tốt lành của vợ chồng và sự sinh sản cũng như giáo dục con cái.”174

Tôi biết đó không phải là định nghĩa lãng mạn, nhưng tại tâm điểm, định nghĩa này có nghĩa hôn nhân thì không chỉ là một khế ước hợp pháp. Thật vậy, một hôn nhân Công Giáo là một giao ước, hay lời thề trung thành thiêng liêng giữa hai người. Trong hôn nhân, người nam và người nữ không chỉ tán thành theo luật; họ còn trao cả chính mình cho nhau vừa vì sự tốt lành của nhau và cả con cái nếu có.

Đó là lý do, trước sự chống đối lớn lao của thế giới, và ngay cả của các giáo phái Kitô khác, Giáo Hội Công Giáo giữ vững hoạch định của Thiên Chúa cho hôn nhân để trở nên vĩnh viễnmở lối cho sự sống.

“CHO ĐẾN KHI SỰ CHẾT CHIA LÌA CHÚNG TÔI”

Năm 1969, Ronald Reagan, lúc ấy là thống đốc của California, đã thông qua luật đầu tiên trong nước cho phép ly dị mà không cần lỗi phạm. Thay vì phải minh chứng người kia đã phạm lỗi tỉ như ngoại tình hay đánh đập, một hôn nhân có thể chấm dứt chỉ vì vợ chồng này có “những khác biệt không thể hòa giải.” Nhưng hậu quả của việc tái định nghĩa hôn nhân này là gì?

Sau khi đạt đến cao điểm trong thập niên 1980, tỉ lệ ly dị trở lại mức độ như trước khi có sự ly dị không lỗi. Nhưng đó chỉ vì có thêm nhiều người không muốn kết hôn – nhiều hơn 11 phần trăm.175 Nhưng điều đó không có nghĩa số người gia tăng này không còn kết hôn với nhau.

Trong 1963, chỉ có 7 phần trăm số trẻ em sinh ở ngoài hôn nhân. Ngày nay, con số đó là 40 phần trăm, và trong một số cộng đồng kinh tế xã hội số đó cao đến 71 phần trăm.176 Trung bình, trong bốn trẻ thì có một trẻ sống xa cách cha ruột của nó.177 Cuộc nghiên cứu thấy rằng những trẻ em nào từ gia đình ly dị hay không kết hôn thì thường sống trong cảnh nghèo và thường dễ bị hành hạ hơn các trẻ từ những gia đình bền vững.

QUÀ TẶNG TỐT NHẤT CHO CON

“Child Trends”, một nhóm nghiên cứu phi đảng phái từng nghiên cứu gia đình trong bốn thập niên qua, nói rằng trẻ em trong gia đình mà cha mẹ có kết hôn thì “tổng quát, sức khỏe tốt hơn, được chăm sóc sức khỏe, và ít có những vấn đề về cảm xúc hay hành vi như các trẻ trong các loại gia đình khác.”178 Ngược lại, một đứa trẻ mà cha mẹ sống chung với nhau và không kết hôn thì có thể bị hành hạ bốn lần nhiều hơn. Một đứa trẻ mà mẹ nó sống chung với một ban trai thì có thể bị hành hạ mười một lần nhiều hơn.”179 Quà tặng tốt nhất mà bạn có thể cho đứa con thì không phải là đồ chơi mới nhất; đó là cha mẹ kết hôn với nhau và sẵn sàng giải quyết vấn đề theo một phương cách lành mạnh.

Ngoài chứng cớ khoa học cho thấy sự tốt lành của một hôn nhân kéo dài cả đời, Kinh Thánh tiết lộ rằng hoạch định của Thiên Chúa cho hôn nhân thường bao gồm sự vĩnh viễn. Đức Giêsu nói khi một người nam và một người nữ kết hôn, “họ không còn là hai nhưng là một. Do đó, điều Thiên Chúa đã kết hợp, loài người không được phân ly” (Mc 10:8-9). Người còn làm sáng tỏ điểm này hơn nữa khi nói, “Ai ly dị vợ mình và lấy một người khác thì phạm tội ngoại tình đối với vợ; và nếu vợ ly dị chồng mình và lấy người khác, họ phạm tội ngoại tình” (Mc 10:11-12).180

Giáo Hội Công Giáo cho phép ly thân và ngay cả ly dị về dân sự nếu có những trường hợp như hành hạ người phối ngẫu.181 Tuy nhiên, nếu cả hai đều là Kitô Hữu thì, theo Đức Giêsu dậy, họ vẫn kết hôn có hiệu lực và vì thế Giáo Hội cấm họ không được tái hôn. Ngay cả khi hôn nhân tan vỡ vì sự bất trung hay sự hành hạ, tội lỗi không thể xóa bỏ những gì Thiên Chúa đã kết hợp. Nhưng ơn sủng có thể khắc phục tội lỗi.

Ơn sủng đem lại sức mạnh cho vợ chồng ly dị để họ gánh chịu những vi phạm đối với họ, và đem cho vợ chồng mà hôn nhân gặp khó khăn sự khiêm tốn để tìm kiếm sự giúp đỡ về tinh thần và chuyên môn. Hôn nhân thì không dễ, nhưng như T. Phaolô nói, “Tôi có thể làm mọi sự trong [Chúa Kitô] đấng củng cố tôi” (Phil 4:13).

LY DỊ VÀ VÔ HIỆU HÓA

Ở điểm này một số người nói, “Tôi biết nhiều người ly dị mà họ được tái hôn trong Giáo Hội. Những gì họ phải làm là có được sự vô hiệu hóa hôn nhân!” Nhưng vô hiệu hóa không phải là một ấn bản ly dị của Công Giáo.

Không như ly dị, mà nó tìm cách tiêu hủy một hôn nhân có giá trị, một tuyên bố vô hiệu hóa nhìn nhận rằng ngay từ đầu hôn nhân ấy đã không có giá trị. Có thể dường như đôi nam nữ kết hôn trong ngày cưới, nhưng không có một yếu tố thiết yếu của hôn nhân. Yếu tố này có thể gồm:

  1. Sự hiểu biết về hôn nhân: Bạn không thể nói “Tôi đồng ý” nếu bạn không biết bạn “đồng ý” với điều gì. Nếu một người đặt điều kiện khi kết hôn (“Tôi sẽ kết hôn một khi tôi được ở gần với gia đình cũ”) hoặc không biết những gì họ đồng ý trong một kết hợp vĩnh viễn, một vợ một chồng mà nó mở lối cho sự sống, thì hôn nhân ấy có thể không có giá trị, hoặc chưa bao giờ xảy ra ngay từ đầu, và vì thế được tuyên bố “vô hiệu”.
  2. Đồng ý kết hôn: Nếu một người bị ép buộc hay kết hôn để làm vui lòng người khác, họ không có sự tự do, và vì thế hôn nhân có thể không giá trị. Anh ta kết hôn với người bạn gái có bầu vì sợ gia đình của cô ta (“đám cưới trước mũi súng”) sẽ là một thí dụ của việc thiếu tự do. Nhưng sự hiện diện của một tâm bệnh hay ngay cả say rượu vào ngày cưới cũng có thể làm cho hôn nhân vô giá trị, vì người này thực sự không có tự do để nói “Tôi đồng ý.”
  3. Có khả năng để kết hôn: Nếu một người đã kết hôn, dưới tuổi kết hôn, hay có liên hệ máu hoặc được nhận nuôi, thì họ không thể cam kết như hôn nhân đòi hỏi, và như thế làm cho các hôn nhân tương lai vô giá trị nếu những trường hợp đó – được Giáo Hội gọi là những cản trở – vẫn còn.
TẠI SAO TÔI PHẢI KẾT HÔN TRONG GIÁO HỘI?

Cũng như một hôn nhân dân sự không có giá trị nếu không xảy ra trước sự hiện diện của một đại diện nhà nước (tỉ như một ông tòa hay một thừa hành có phép) và phù hợp với luật của nhà nước, một hôn nhân Công Giáo không có giá trị nếu không xảy ra trước sự hiện diện của Giáo Hội và phù hợp với luật của Giáo Hội.

Đám cưới phải thông thường xảy ra trong một nhà thờ Công Giáo (trừ phi đức giám mục cho phép), vì hôn nhân là một trong những trách nhiệm linh thiêng nhất của một đời người nên nó phải xảy ra trong một nơi thiêng liêng. Giáo Hội cũng muốn biết chắc là đôi nam nữ thực sự hiểu rõ lời thề vĩnh viễn, một vợ một chồng, và mở lối cho sự sống mà họ đồng ý, đó là lý do Giáo Hội thường không cho phép đám cưới xảy ra trong các giáo đường của các giáo phái khác hay nơi thế tục mà ở đây quan điểm về hôn nhân khác với Giáo Hội.

Một người Công Giáo kết hôn ngoài Giáo Hội sẽ là một hôn nhân vô hiệu lực (và vì thế sẽ phạm tội khi có tương quan tình dục). Tuy nhiên, hoàn cảnh này có thể giải quyết bằng cách để hôn nhân được phê chuẩn, hay chính thức được Giáo Hội nhìn nhận.

“TRƯỚC LÀ TÌNH YÊU, SAU ĐÓ LÀ HÔN NHÂN, SAU ĐÓ…”

Giáo Hội không đòi hỏi vợ chồng phải có đủ số con để làm đội bóng rổ của gia đình. Giáo Hội cũng không nói với họ, như Trung Cộng nói với dân chúng, rằng có số con cái tối đa họ được phép sinh. Sách Giáo Lý chỉ nói rằng cha mẹ phải cho thấy “sự độ lượng thích hợp với trách nhiệm làm cha mẹ” (GLCG 2368), và họ không được dùng các phương tiện vô luân, tỉ như phá thai hay ngừa thai, để hoạch định gia đình.

Thật vậy, nhiều hình thức ngừa thai phổ thông – tỉ như IUD và ngay cả một số thuốc kiểm soát kích thích tố – có thể giết thai nhi bởi ngăn chặn nó không được bám vào lòng mẹ như một phôi thai. Nhưng ngay cả khi việc ngừa thai không có khả năng gây ra sự phá thai (tỉ như bọc dương vật), nó vẫn sai trái, vì đó là một hình thức khác về sự bất trung tình dục.

Chúng ta đã thấy tình dục có một ý nghĩa hôn nhân, nội tại như thế nào. Khi một đôi nam nữ giao cấu, về thể xác họ diễn tả một lời thề, tỉ như vĩnh viễn, mà nó chưa có và vì thế họ nói lời gian dối với thân xác mình. Một trong những lời thề Giáo Hội yêu cầu đôi tân hôn nói lên trong ngày cưới là “yêu thương chấp nhận con cái Chúa ban.” Đôi vợ chồng không phải tìm cách thụ thai mỗi lần họ có sự mật thiết; họ chỉ hứa đừng trực tiếp làm mất khả năng sinh sản mỗi khi thân mật qua việc sử dụng thuốc ngừa thai.

KINH THÁNH NÓI GÌ?

Tuy bọc dương vật được biết là đã có từ thời cổ Ai Cập, người Do Thái tin rằng sự thụ thai là một quà tặng của Thiên Chúa nên họ không cổ vũ việc ngừa thai. Thật vậy, Kinh Thánh chỉ có một ghi nhận về hành vi ngừa thai, khi Onan “rút dương vật” ra trước khi xuất tinh. Sáng Thế 38:10 nói, “Điều nó làm thì không hài lòng trước mắt Thiên Chúa, và Người đã giết nó”.182

Nhưng tại sao đôi vợ chồng không giữ lời thề “mở lối cho sự sống” bởi thỉnh thoảng dùng thuốc ngừa thai?

Câu trả lời là: Vì cùng một lý do đôi vợ chồng không thể giữ lời thề “trung thủy” chỉ bởi “thỉnh thoảng” ngoại tình. Như chúng ta đã thấy, để tình dục là sự kết hợp một xương thịt, nó phải là một quà tặng toàn thể chính mình (không có gì, ngay cả sự sinh sản, có thể giữ lại), và nó phải hướng về điều gì đó vượt lên trên những cảm giác riêng tư của vợ và chồng. Nó phải được hướng về việc tạo ra con người mới.

Nhưng nếu điều đó đúng, làm thế nào đôi vợ chồng có thể theo giảng dậy của Giáo Hội rằng họ có trách nhiệm hoạch định gia đình mình? Câu trả lời: kế hoạch hóa gia đình cách tự nhiên (NFP).

KẾ HOẠCH GIA ĐÌNH TỰ NHIÊN

Tôi luôn bàng hoàng khi thấy nhiều người lưu tâm đến việc mua thực phẩm hữu cơ (organic) tại các chợ nhưng lại không chống đối gì với việc dùng các thuốc ngừa thai, mà Tổ Chức Ung Thư Hoa Kỳ xếp hạng đó là chất gây ung thư nhóm một.183 Đó là lý do tôi yêu thích NFP vì nó hoàn toàn tự nhiên, không bị chất nhựa, không có kích thích tố cho vợ tôi và tôi (cùng với hàng triệu vợ chồng khác) sinh con cách quãng.

Trong khi người đàn ông thường có khả năng sinh sản cho đến khi nằm trong mộ, khả năng sinh sản của người nữ giảm sút đáng kể khi lớn tuổi và chỉ hiện diện trong một số ngày mỗi tháng. NFP dùng kỹ thuật theo dõi khả năng sinh sản để đôi vợ chồng muốn có con, họ có thể chọn thân mật vào những ngày người nữ được biết là có thể thụ thai. Ngược lại, nếu họ cảm thấy chưa sẵn sàng để có con, họ chỉ chọn thân mật vào những ngày không thể thụ thai.

NFP đòi hỏi hai vợ chồng phải cùng hợp tác để theo dõi khả năng sinh sản và quyết định khi nào mật thiết. Và thành thật mà nói, việc chờ đợi những ngày không thể thụ thai có thể thật khó khăn. Tuy nhiên, trong thời gian kết hôn chưa được lâu của tôi, tôi thấy rằng khi NFP buộc đôi vợ chồng phải kiên nhẫn và giao tiếp với nhau, điều đó đã giúp giải quyết những xung khắc và cải thiện hạnh phúc hôn nhân. Có lẽ đây là lý do tại sao những vợ chồng nào dùng NFP thì tỉ lệ ly dị chỉ từ 1 đến 3 phần trăm.184

Nhưng không phải NFP là một kiểu ngừa thai của Công Giáo sao? Trong cả hai trường hợp, vợ chồng thi hành điều gì đó để họ không có con. Tuy dường như giống nhau, nhưng không phải. Sau đây là một loại suy để giải thích sự khác biệt, và tại sao NFP thì phù hợp luân lý trong khi ngừa thai thì không.

Hãy tưởng tượng bạn đang chọn ngày cưới và nó rơi đúng vào thời điểm mà các bà con bên vợ của bạn có trận đấu banh rất lớn. Nếu bạn thực sự muốn họ tham dự đám cưới, bạn phải chọn một tuần trước trận đấu. Nhưng giả sử tài chánh của bạn eo hẹp và bạn không muốn có thêm khách được mời. Bạn có thể chọn ngày cưới đúng vào trận đấu và cứ gửi thiệp mời như dấu chỉ rằng bạn vẫn quý trọng sự tương giao với họ. Nếu họ xuất hiện, có lẽ hơi chút căng thẳng, nhưng bạn sẽ cảm kích vì họ đã đến.

Bây giờ, hãy tưởng tượng bạn không muốn đợi một tuần và bạn tuyệt đối không muốn bà con đó đến dự đám cưới. Để biết chắc là họ không đến, bạn gửi cho họ giấy báo nói rằng, “Vui lòng đừng đến đám cưới của chúng tôi. Chúng tôi không muốn quý vị đến đây! ”

Điều này liên hệ thế nào với NFP?

Chọn ngày tốt nhất cho các bà con thì cũng giống như có sự mật thiết vào ngày có thể thụ thai; bạn tạo ra những điều kiện tối ưu để có con. Trì hoãn đám cưới một tuần thì giống như chờ đợi để mật thiết vào ngày không thụ thai. Có lẽ không thể có con, nhưng nếu có thì cũng tốt!

Tuy nhiên, gửi giấy báo đừng đến thì giống như ngừa thai. Cũng giống như bạn nói với các bà con ấy, “Chúng tôi muốn ngày này, nên đừng xuất hiện và làm hỏng ngày ấy!”, việc dùng thuốc ngừa thai gửi một giấy báo cho đứa con tương lai của bạn (cũng như cho Thiên Chúa, là đấng trách nhiệm mọi ơn sủng thụ thai), “Chúng tôi muốn khoái lạc tình dục vào thời điểm đặc biệt này, bởi đó đừng xuất hiện và đừng làm hỏng ngày ấy!” Nhưng con cái không làm hỏng sự khoái lạc tình dục, chúng là sự hoàn thành của tình dục, do đó chúng ta không bao giờ tham dự trong một sinh hoạt mà nói gửi giấy báo cho đứa con là nó không được mong muốn, dù đó là điều Thiên Chúa muốn chọn để chúc lành chúng ta.

CÁC THÁNH KẾT HÔN?

Năm 2015, ĐGH Phanxicô tuyên thánh đôi vợ chồng đầu tiên, ông Louis và bà Zelie Martin. Người nói họ “thi hành việc phục vụ Kitô Giáo trong gia đình, hàng ngày thiết lập một môi trường đức tin và đức mến mà nó ấp ủ ơn gọi của các cô con gái, trong đó có T. Têrêsa ở Lisieux.”185

Không phải là bất thường khi hôn nhân bị căng thẳng sau cái chết của một đứa con, và ông bà Martin chịu đựng cái chết của bốn đứa con sơ sinh. Thay vì tuyệt vọng, họ sống như một gương mẫu thánh thiện cho năm người con còn lại. Một ngày của họ được chia thành thời gian cầu nguyện, làm việc, và thư giãn, phần lớn thời gian ấy là ở thôn quê, nơi T. Têrêsa thừa hưởng lòng yêu mến thiên nhiên và bông hoa của cha mình.

Sau khi người vợ từ trần, ông Louis phải chiến đấu với sự cô đơn khi cả năm cô con gái đi tu và khấn trọn. Ông vẫn nói, “Đó là một vinh dự lớn lao, vĩ đại cho tôi khi Thiên Chúa muốn cả năm cô con gái của tôi. Nếu tôi có được điều gì tốt hơn, tôi sẵn sàng dâng cho Chúa.”186

TẠI SAO CHÚNG TÔI TIN: HÔN NHÂN

  • Hôn nhân không phải là một khế ước hợp pháp giữa hai người, nhưng là một giao ước thiêng liêng giữa người nam và người nữ, giữa hai người Kitô Hữu đã rửa tội, đó là một sự kết hợp không thể tiêu hủy.
  • Một đôi vợ chồng luôn luôn canh tân lời thề hôn nhân trong sự mật thiết tình dục, kể cả lời thề “đón nhận con cái Chúa ban.”
  • Để cách quãng việc sinh nở, đôi vợ chồng được khuyến khích hãy dùng các phương pháp như kế hoạch hóa gia đình tự nhiên, mà nó không gây thiệt hại cho vợ chồng và cũng không trái với ý nghĩa thiêng liêng của hành vi hôn nhân.
Ghi chú
174 Code of Canon Law, 1055.
175 Wendy Wang and Kim Parker, “Record Share of Americans Have Never Married,” Pew Research Center, September, 24, 2014, www.pewsocialtrends.org/2014/09/24/record-share-of-americans-have- never-married/.
176 “In 1963, as President Lyndon Johnson was launching the War on Poverty, 7 percent of American children were born outside marriage . . . According to CDC, a record 40.6 percent of children born in 2008 were born outside marriage—a total of 1.72 million children.” Robert Rector, “National Review: Out Of Wedlock,” NPR, April 12, 2010, www.npr.org/templates/story/story.php?storyId=125848718. “The percentage of all births to unmarried women was 40.2% in 2014, down from 40.6% in 2013, the lowest level since 2007. This percentage peaked in 2009 at 41.0%. In 2014, the percentage of nonmarital births varied widely among population groups, from 16.4% for [Asian Pacific Islander] mothers to 70.9% for non-Hispanic black mothers.” Hamilton, et al. “Births: Final Data for 2014” National Vital Statistics Reports Volume 64, Number 12, December 23, 2015, https://www.cdc.gov/nchs/data/nvsr/nvsr64/nvsr64_12.pdf.
177 Rose M. Kreider and Renee Ellis, “Living Arrangements of Children: 2009,” United States Census Bureau, June 2011, https://www.census.gov/prod/2011pubs/p70-126.pdf.
178 D. L. Blackwell, “Family Structure and Children’s Health in the United States: Findings from the National Health Interview Survey, 2001-2007,” National Center for Health Statistics, Vital Health Statistics 10 (2010), 246. Cited in Family Structure, December 2015, www.childtrends.org/wp-content/uploads/2015/03/59_Family_Structure.pdf.
179 W. Bradford Wilcox, “Suffer the Little Children: Cohabitation and the Abuse of America’s Children,” Public Discourse, April 22, 2011, www.thepublicdiscourse.com/2011/04/3181/.
180 In the parallel passage in Matthew 19:9, Jesus says, “whoever divorces his wife, except for unchastity, and marries another, commits adultery.” Scholars debate the meaning of “unchastity,” but it probably refers to adultery that takes place after the betrothal period but before the consummation of the marriage, or it may refer to sexually unlawful marriages that involve close relatives.
181 According to the Catechism, “Between the baptized, ‘a ratified and consummated marriage cannot be dissolved by any human power or for any reason other than death.’ The separation of spouses while maintaining the marriage bond can be legitimate in certain cases provided for by canon law. If civil divorce remains the only possible way of ensuring certain legal rights, the care of the children, or the protection of inheritance, it can be tolerated and does not constitute a moral offense.” The Catechism goes on to affirm, though, that “Divorce is a grave offense against the natural law. It claims to break the contract, to which the spouses freely consented, to live with each other till death” (Giáo Lý Công Giáo (GLCG) 2382-84).
182 The full text says, “Then Judah said to Onan, ‘Go in to your brother’s wife, and perform the duty of a brother-in-law to her, and raise up offspring for your brother.’ But Onan knew that the offspring would not be his; so when he went in to his brother’s wife he spilled the semen on the ground, lest he should give offspring to his brother. And what he did was displeasing in the sight of the Lord, and he slew him also (Gen. 38:8-10). Normally in the Old Testament the punishment for not raising up children for a deceased brother (or practicing Levirate marriage) was public shaming (Deut. 25:5-10). The fact that the Lord slew Onan is evidence that he was displeased with the way Onan disobeyed his law, that is, by practicing contraception.
183 “Known and Probable Human Carcinogens,” American Cancer Society, November 3, 2016, www.cancer.org/cancer/cancercauses/othercarcinogens/generalinformationaboutcarcinogens/known-and-probable-human-carcinogens.
184 M. A. Wilson, “The Practice of Natural Family Planning Versus the Use of Artificial Birth Control: Family, Moral and Sexual Issues,” Catholic Social Science Review, 7 (2005), 185-211.
185 “Holy Mass and Canonization of the Blesseds: Vincenzo Grossi, Mary of the Immaculate Conception, Ludovico Martin and Maria Azelia Guérin,” Homily of His Holiness Pope Francis, October 18, 2005, w2.vatican.va/content/francesco/en/homilies/2015/documents/papa-francesco_20151018_omelia-canonizzazioni.html. 186 Ferdinand Holböck, Married Saints and Blesseds: Through the Centuries (San Francisco: Ignatius Press, 2002), 411.