Mẹ Cứu Giúp

LÝ TRÍ VÀ ÐỨC GIÊSU PHỤC SINH

Giả như chúng tôi mời một anh chị em lên tòa giảng và bịt mắt anh chị em đó lại, rồi chúng tôi đặt một sô nước trước mặt anh chị em đó, và hỏi anh chị em đó đoán xem nó rỗng hay đầy. Có ba cách trả lời câu hỏi đó mà không cần phải cởi khăn bịt mắt ra. Ba cách đó thế nào?

Cách thứ nhất là đến thẳng xô nước và thò tay vào xem có nước trong đó không. Nói cách khác, anh chị em có thể kinh nghiệm trực tiếp xem xô ấy đầy hay rỗng. Cách này được gọi là kinh nghiệm. Ðây là tri thức mà chúng ta có được bằng kinh nghiệm trực tiếp. Ðó là tri thức do giác quan.

Cách thứ hai để biết cái xô ấy có chứa nước hay không là thả vào đó một vật, chẳng hạn một đồng xu. Nếu vật ấy chạm vào đáy xô tạo nên một âm thanh vang và to, anh chị em sẽ biết ngay cái xô ấy rỗng. Nhưng nếu đồng xu ấy chạm tạo nên âm thanh không rõ hoặc có những hạt nước bắn tóe ra, anh chị em biết ngay cái xô ấy có nước. Tri thức này có được là nhờ lý luận.

Cách thứ ba, để biết xem cái xô ấy có nước hay không là hỏi thăm người nào mà anh chị em tin cậy. Người ấy có thể nhìn vào cái xô và nói cho anh chị em biết trong ấy có nước hay không. Cách biết này do tin vào người khác mà biết. Ðó chính là tri thức có được do niềm tin.

Kinh nghiệm, lý luận và tin tưởng- đó chính là ba cách thức để biết ở đời này.

Bây giờ chúng ta hảy xét đến một câu hỏi khác, câu hỏi thứ hai.

Trong ba cách để biết ấy, có cách nào giúp chúng tabiết được nhiều hơn cả? Chúng ta biết được điều này điều kia là do kinh nghiệm bằng giác quan, hay do đầu óc suy luận, hay do tin tưởng vào người khác?

Nếu anh chị em trả lời là do niềm tin, do sự tin tưởng nơi người khác, thì anh chị em đúng hoàn toàn. Hầu hết chúng ta biết được điều này điều kia là do chúng ta tin vào những gì người khác nói với chúng ta. Có một nhà chuyên môn ước lượng rằng 80% những kiến thức của chúng ta là do tin tưởng vào người khác mà có.

Chẳng hạn, trong chúng ta ít có ai được may mắn du hành quanh thế giới. Cách duy nhất, để chúng ta biết về phần lớn các quốc gia trên thế giới là do người khác nói cho chúng ta biết. Nóí cách khác, chúng ta tin vào những người đã từng đến nhữmg nơiù ấy. Nếu họ kể cho chúng ta rằng có một xứ sở nọ tên là Trung Hoa, và dân chúng ở đó thế này thế kia, chúng ta sẽ tin họ.

Phương cách để chúng ta có được những tri thức thông thường còn nhận thức như thế, thì cách thức để chúng ta có được những tri thức tôn giáo càng chân thực hơn nữa. Phần lớn tri thức tôn giáo mà chúng ta có là do chúng ta tin vào những gì Kinh thánh kể lại cho chúng ta. Nói cách khác, phần lớn tri thức tôn giáo của chúng ta là do niềm tin.

Bây giờ chúng ta xét đến câu hỏi thứ ba. Chúng ta có thể hiều biết những thực tại tôn gíao cũng bằng ba cách mà chúng ta thường dùng để hiều biết những thực tại thông thường không?

Chẳng hạn, chúng có thể biết Ðức Giêu sống lại từ cõi chết không phải chỉ nhờ tin những gì Kinh Thánh nói, mà còn nhờ vào suy luận nữa không? Có nhiều người nghĩ rằng được. Họ giải thích rất hấp dẫn. Họ lập luận rằng sau khi Ðức Giêsu chết, các môn đệ bị khủng hoảng tinh thần tột độ. Họ chỉ còn là một nhóm người đại bại, một nhóm người thất chí, một nhóm người nhát sợ. Thế rồi vào chúa nhật Phục Sinh, có một biến cố nào đó đã xảy ra cho đám người đang bị khủng hoảng, thất chí, sợ hãi này. Có một biến cố nào đó đã biến đổi họ một cách không thể tưởng tượng được. Có một biến cố nào đó thay đổi con người họ một cách thật lạ lùng, Bỗâng nhiên lòng họ bừng lên niềm vui, niềm hạnh phúc thật sự. Họ không thể cầm lòng được. Họ vội chạy đi loan báo cho mọi người gặp rằng Ðức Giêsu đã sống lại và hiện đang sống. Họ tin đều ấy một cách chắc chắn đến độ họ thà sẵn sàng chịu bắt bớ bách hại đủ kiểu đủ cách, dầu là phải chết, còn hơn phải chối bỏ Ðức Chúa đã phục sinh của họ.

Ðời sống và lời giảng của nhóm người này đã thay đổi cục diện lịch sử nhân loại. Không một giả thuyết nào có thể giải thích được tại sao đời sống họ lại có thể biến đổi như thế, ngoại trừ cách gỉai thích của chính họ: Họ đã thấy Ðức Giêsu hiện còn sống.

Giả như nhóm người thất học này đã phịa chuyện về Ðức Giêsu và sự phục sinh của Ngài thì chắc chắn ta phải chấùp nhận rằng sớm hay muộn, ít nhất phải có một người trong bọn sẽ phải nói ra sự thật, Vì không chịu nổi sự bách hại và giết chóc.

Nhưng không một ai trong nhóm ây đã làm thế, lời chứng của họ về Ðức Giêsu sống lại không bị lay chuyển chút nào. Ngược lại, lời chứng ấy càng ngày càng mạnh mẽ và ảnh hưởng tới mọi người hơn. Họ đã cảm nghiệm được một năng lực mới lạ và diệu kỳ đã khiến họ thực hiện được nhiều phép lạ. Chính sự biến đổi không thể nào giải thích được nơi các môn đệ Ðức Giêsu khiến cho nhiều người nói rằng chính lý trí cũng minh chứng rằng Ðức Giêsu đã phục sinh. Nói cách khác, lý trí thuần lý cũng xác quyết rằng một biến cố nào đó rất ngoạn mục đã xảy ra làm biến đổi các môn đệ Ðức Giêsu. Lý trí thuần lý xác nhận rằng sự Phục Sinh của Ðức Giêsu thực sự đã xảy ra.

Anh chị em cũng như tôi đều không được đặt tay vào cạnh sườn Chúa Giêsu như Thánh Tôma, để trực tiếp cảm nghiệm được Ðức Giêsu đã phục sinh từ cõi chết. Tuy nhiên chúng ta có thể tin tưởng vào chứng cứ của Thánh Kinh. Chúng ta cũng có thể làm hơn thế nữa. Chúng ta cũng có thể sử dụng tặng phẩm Chúa ban là lý trí để xác quyết thêm điều Kinh Thánh đã truyền dạy chúng ta. Và rồi, chúng ta cũng có thể quỳ gối xuống như Thánh Tôma đã làm và thưa với Chúa Giêsu: "Lạy Chúa con, lạy Thiên Chúa của con". Ðáp lại Chúa Giêsu nói với chúng ta: "hạnh phúc biết bao cho kẻ chẳng thấy mà vẫn tin".

Ðể kết thúc chúng ta hãy dâng lời cầu nguyện:

Kính lạy Chúa, bất cứ khi nào đức tin chúng con bị chao đảo, giống như trường hợp của Thánh Tôma, thì xin Ngài hãy nhắc chúng con nhớ lại những lời Kinh thánh thuật lại về những biến cố đã xảy ra vào ngày Chủ Nhật Phục sinh. Cũng xin Chúa nhắc chúng con nhớ biến cố này không chỉ gây ảnh hưởng trên các môn đệ Chúa Giêsu mà còn trên toàn dòng lịch sử. Và nhất là, xin nhắc cho chúng con biết tham dự vào Tin Mừng Phục Sinh của Ngài với tha nhân chung quanh chúng con, giống như các môn đệ đã chia sẻ niềm vui ấy cho quần chúng quanh họ. Chúng con nguyện xin nhờ Ðức Kitô, Chúa chúng con.

Lm. Mark Link S.J.