HIỂU ĐỂ SỐNG ĐỨC TIN

ĐỀN TẠ CÓ NGHĨA LÀ GÌ?

Lm. Phan Tấn Thành, O.P.

Việt Nam, có những phong trào đền tạ Thánh Tâm, đền tạ Mẫu Tâm. Đền tạ có nghĩa là gì?

Dĩ nhiên những phong trào đền tạ ở Việt Nam không phải là tự nhiên đột xuất tại đất nước ta, nhưng nằm trong cả một phong trào tu đức trên thế giới. Người ta đã dịch “đền tạ” (hay đôi khi: phạt tạ) từ tiếng Pháp réparation, nguyên ngữ có nghĩa là: sự sửa chữa, đền bù; nó giả thiết là đã có cái gì hư hỏng, thiệt hại, vì thế mà cần phải sửa lại hay là bồi thường. Do đó dịch là “đền tạ” thì quả là đúng: “đền” có nghĩa là bù lại, trả lại; “tạ” có nghĩa là lời xin lỗi (tạ lỗi) hay là cám ơn (tạ ơn). Tôi nghĩ rằng tiếng “đền tạ” xem ra dịch sát hơn là “phạt tạ”; bởi vì như sẽ thấy sau đây thần học về “đền tạ” đề cao tính cách yêu mến: chúng ta mến Chúa để đáp lại lòng Chúa thương ta; còn tư tưởng “phạt tạ” có thể đưa tới những hình ảnh sai lầm trình bày Chúa ra như bừng bừng nổi giận vì bị tội lỗi xúc phạm, vì thế cần phải có người đứng ra lãnh hình phạt thay để cho Người nguôi đi. Hình ảnh các vị thần nổi cơn lôi đình khá quen thuộc trong lịch sử các tôn giáo; nhưng chắc chắn là không có phù hợp với hình ảnh Thiên Chúa do Đức Kitô mặc khải: Người là cha nhân hậu chờ mong đứa con hoang đàng trở về, ôm chầm hôn hít nó; Người là mục tử bỏ 99 con chiên lành, trèo non lặn suối để đi tìm con chiên lạc. – Chúng ta cũng nên ghi nhận rằng phong trào đền tạ Thánh Tâm Chúa đã có từ lâu, còn phong trào đền tạ Mẫu Tâm thì mới có từ thế kỷ XX.

Tại sao lại nảy sinh ra phong trào đền tạ Thánh Tâm?

Như vừa nói trên đây, những phong trào đạo đức này không phải là nảy sinh từ Việt Nam, nhưng là một phong trào có tầm mức quốc tế, được truyền bá sang tại rất nhiều nước và đã tới nước ta. Tôi không có tài liệu xác định là nó tới Việt Nam lúc nào, nhưng những tài liệu về nguồn gốc khai sinh của nó thì không thiếu. Theo nghĩa chặt, thì phong trào đền tạ Thánh Tâm bắt nguồn từ những mặc khải của Thánh Tâm Chúa Giêsu cho thánh nữ Margarita Maria. Thế nhưng tư tưởng đền tạ Chúa thì đã có từ lâu đời, ngay từ những thế kỷ đầu tiên của Giáo Hội. Các tín hữu Kitô đã không ngừng cám ơn Chúa vì hồng ân cứu rỗi đã ban cho nhân loại nơi Thập Giá Đức Kitô, và đồng thời họ đã khẩn xin Chúa cho hết mọi người được nhận biết Chúa và lãnh được ơn cứu rỗi; trong số những người được các Kitô hữu cầu nguyện đặc biệt thì đứng đầu là dân Do Thái: xin cho họ biết nhìn nhận nơi Đức Kitô vị thiên sai mà Chúa đã hứa cùng các tổ phụ. Ta thấy chủ đề tạ ơn và khẩn nài này vẫn còn được duy trì trải qua các thời đại, đặc biệt là khi cử hành Thánh lễ. Sang tới những thế kỷ sau, cạnh những lời trách móc dân Do Thái vì đã vô ơn với Chúa và đã đóng đinh Con Chúa, các Kitô hữu ý thức rằng chính con cái mình cũng nhiều lần đã đóng đinh Chúa, thí dụ những người đã chối Chúa, và nói chung những người không trung thành với giao ước. Ta thấy trong bài ca thán: “Dân ta ơi, ta đã làm gì cho ngươi” hát ngày thứ 6 tuần thánh đã bao gồm cả dân Do Thái lẫn dân Kitô Giáo đã vô ơn với Chúa. Tuy nhiên, các tín hữu không dừng lại ở chỗ cầu khẩn hay than van trách móc; từ Thánh Augustinô trở đi, các giáo phụ đã phát triển đề tài “yêu lại” (redamatio), nghĩa là hãy yêu Chúa để đáp trả lại tình yêu của Người, giống như Thánh Phêrô sau ba lần chối Chúa đã đáp lại 3 lần: lạy Chúa con mến Chúa hơn hết mọi người. Dĩ nhiên lòng mến ấy không phải chỉ dính ở môi miệng nhưng còn thấm nhuần tất cả đời sống nữa. Các tín hữu đã biểu lộ lòng mến Chúa qua việc hoạ lại đời sống của Người, thí dụ các đan sĩ đặt cho mình cái lý tưởng là đi theo Chúa, vác thập giá với Chúa; các tín hữu khác cũng sống lý tưởng đó, và biểu lộ việc vác thập giá với Chúa qua những việc ăn chay các ngày thứ Sáu. Khỏi nói ai cũng biết, các đan sĩ và các tín hữu chia sẻ đường thập giá với Chúa Kitô không phải là để cho Chúa đỡ khổ, nhưng là để bày tỏ tình yêu mến đối với Người đã thương ta, cũng như để tham dự vào công cuộc cứu chuộc của Người. Nói khác đi, họ muốn đền tội của mình hay là tội của người khác, bởi vì tội đã gây ra cái chết cho Chúa và tội là sự phản bội lại tình yêu của Chúa.

Tình yêu được tượng trưng qua trái tim của Chúa, phải không?

Đúng 50%. Tại sao mà chỉ đúng có một nửa? Lý do là bởi vì Kinh Thánh, viết trong môi trường văn hóa vùng Trung Đông, không coi trái tim là cơ quan của tình yêu. Trái tim là cơ quan suy nghĩ và quyết định, còn cơ quan để yêu là cái lòng, nghĩa là cái ruột. Có lẽ quan niệm của người Việt mình cũng tương tư như vậy: “yêu em anh để trong lòng” (chứ không phải trong tim; lòng hiểu là ruột: thí dụ anh em ruột, bà con ruột thịt). Thế nhưng từ thời Trung Cổ bên Âu Châu, người ta cho rằng cái đầu là cơ quan để nghĩ và con tim là cơ quan để yêu. Cũng từ đó mà có những phong trào suy gẫm đến trái tim Chúa Giêsu, nổi tiếng hơn cả là các thánh nữ Mechtilđê và Gertruđê (thế kỷ XIII bên Đức); song song là những phong trào đền tội thay cho các người xúc phạm đến Chúa, vô ơn bạc nghĩa với Chúa, tượng trưng nơi Thánh Birgitta ở Thụy điển và Catarina de Siena, ở thế kỷ XIV. Sự đền tội thay thế được diễn tả cách riêng qua việc phạt xác đánh tội và chầu Thánh Thể, suy gẫm các sự thương khó Chúa.

Có phải do ý tưởng đền tội thay thế mà người ta nói tới “phạt tạ” hay không?

Theo tôi nghĩ thì đúng như vậy: theo nghĩa là người tín hữu tình nguyện lĩnh lấy hình phạt thay cho tội nhân, cách riêng qua việc phạt xác, lãnh nhận những đau đớn tự ý gây ra (thí dụ ăn chay, đánh tội). Thiết nghĩ cũng nên thêm rằng từ thế kỷ XVII về sau, thần học bỏ quên đề tài “giao ước tình yêu” của Kinh Thánh, và phát triển một chiều quan niệm công bằng của Chúa. Họ đặt nặng công bằng cũng ngang với tình yêu ở nơi Chúa. Họ lý luận rằng khi con người phạm tội thì xúc phạm tới Thiên Chúa công bằng vô cùng; vì thế để đền bù cân xứng thì cần phải có Con Thiên Chúa, Đấng vô cùng, đứng ra chuộc tội thay cho ta. Tóm lại, đây là thời đại của thần học và luân lý pháp đình, ba cọc ba đồng.

Song song với sự đền tạ Thánh Tâm Chúa là sự đền tạ Trái Tim Đức Mẹ. Thực ra việc đặt hai trái tim kề nhau đã bắt nguồn từ Thánh Gioan Eudes (1601-1680); tuy nhiên phong trào đền tạ Thánh Tâm Chúa được phổ biến mạnh từ Thánh Margarita Maria sau biến cố Paray le Monial (1675) nhờ cha Claude La Colombière và các cha Dòng Tên; còn phong trào đền tạ Trái Tim Đức Mẹ bắt đầu từ cuối thế kỷ XIX: năm 1899 Chị Maria Dolores Inglese đã đề xướng việc rước lễ ngày thứ bảy đầu tháng để đền tạ Trái Tim Đức Mẹ. Nhưng đề nghị đó được thực hiện vào thế kỷ XX: một đàng là qua những phong trào phổ biến sứ điệp Fatima, và đàng khác là qua những phong trào do các cha Dòng Thánh Thể cổ động và không có dính dáng chi tới Fatima cả. Đại khái, những phong trào đền tạ Thánh Tâm Chúa hay Mẫu Tâm đều đề nghị những công tác như nhau: thống hối, chia sẻ những đau khổ của Trái Tim Chúa hay Trái Tim Mẹ, dâng mình đền tội.

Như thế những động lực đền tạ Thánh Tâm và Mẫu Tâm thì cũng như nhau?

Có phần giống và có phần khác. Dĩ nhiên nếu chỉ nhìn lên hình ảnh của hai trái tim tượng trưng cho tình yêu, thì nói được là cả hai đều như nhau, nghĩa là đền bù cho những xúc phạm tới tình yêu thương. Nhưng khi đi sâu vào công cuộc cứu chuộc thì hoàn toàn khác: sự đau khổ của Chúa Giêsu trên thập giá là nguyên nhân mang lại ơn cứu chuộc của nhân loại; còn Đức Maria chỉ có vai trò phụ. Tuy nhiên, ngay từ thập niên 60, Cha Rahner đã bắt đầu đặt lại vấn đề thần học về đền tạ Thánh Tâm, dựa theo toàn thể lịch sử của Giáo Hội và toàn thể Kinh Thánh, chứ không thể dừng lại vào những quan niệm thần học một chiều thịnh hành từ thế kỷ XVII. Thực vậy, thần học trong những thế kỷ gần đây nhấn mạnh quá đáng ở chỗ đền bù sự xúc phạm đến Chúa mà tội lỗi đã gây ra, hoặc để an ủi Chúa vì sự tệ bạc của con người. Ta thấy cả hai tư tưởng đó tuy đúng nhưng thiếu sót, bởi vì hình dung Thiên Chúa theo kiểu cách quá nhân loại (Chúa thịnh nộ, Chúa buồn sầu). Cần phải lồng việc đền tạ trong một nhãn giới rộng lớn hơn của lịch sử cứu độ và giao ước tình yêu. Dĩ nhiên là tội lỗi là một điều xúc phạm đến Chúa, và cần phải được đền bồi. Chính Đức Kitô đã trao hiến mình, đã chết vì tội của chúng ta, để thanh tẩy tội lỗi của chúng ta. Duy có Đức Kitô mới có khả năng đền tạ hay phạt tạ cân xứng được. Việc đền tạ của chúng ta tiên vàn có nghĩa là mở cửa lòng để đón nhận hồng ơn ấy, nghĩa là đón nhận chính tình thương của Chúa đối với ta, để cho tình yêu Người càng ngày càng chiếm đoạt tất cả toàn thân ta hơn nữa. Đàng khác, tuy Thiên Chúa thương yêu riêng mỗi một người chúng ta, gọi đích danh tên từng người một, nhưng Người cũng muốn quy tụ chúng ta thành một gia đình. Vì thế chúng ta cần cảm thấy tình liên đới trong gia đình nhân loại, trong gia đình Giáo Hội: chúng ta không nên chỉ nghĩ tới phần rỗi của linh hồn mình, nhưng còn nghĩ tới số phận của anh chị em chúng ta trong đại gia đình nhân loại, mong sao cho tất cả cũng được tham dự vào bàn tiệc của Chúa. Nói khác đi, trong khi mà trước đây, thần học về sự đền tạ nhấn mạnh đến sự công thẳng thịnh nộ của Chúa, thì ngày nay người ta muốn lồng nó trong cái nhìn thông hiệp, giữa Thiên Chúa với con người cũng như giữa con người với nhau. Hiểu như thế, bất cứ việc lành nào mà ta làm thì không phải chỉ có lợi cho phần rỗi của linh hồn ta, nhưng còn đóng góp cho sự thánh thiện của Hội Thánh; đồng thời chúng ta cố gắng tẩy trừ dấu tích của tội lỗi và sự dữ không những là trong bản thân của ta mà còn trong các cơ chế xã hội, kể cả trong các cơ chế của Giáo Hội, xét như là một cộng đồng mang những giới hạn bất toàn của con người. Tất cả những cố gắng ấy đều nhằm chiếu tỏa tình yêu của Chúa với nhân loại. – Còn việc đền tạ Đức Maria thì cần được lồng trong thần học về vai trò của người trong chương trình cứu chuộc. Tiếc rằng vì thời giờ không cho phép, nên xin dành vào dịp khác.