HIỂU ĐỂ SỐNG ĐỨC TIN

KINH TRUYỀN TIN BẮT NGUỒN TỪ ĐÂU?

Lm. Phan Tấn Thành, O.P.

Hàng tuần, đài phát thanh Vatican tường thuật buổi Đức Thánh Cha đọc kinh Truyền Tin chung với các tín hữu tại quảng trường thánh Phêrô. Nguồn gốc kinh Truyền Tin có từ bao giờ?

Cơ cấu của kinh Truyền Tin như chúng ta đọc ngày nay không thành hình đồng loạt vào một lúc. Lịch sử của nó kéo dài qua nhiều giai đoạn. Ta có thể lấy khởi điểm là việc cử hành mầu nhiệm Thiên Chúa Nhập Thể. Vào thế kỷ V, nghĩa là vào hồi mà các tín hữu còn mừng mầu nhiệm Chúa Nhập Thể và giáng sinh vào cùng một ngày 25 tháng chạp, thì Thánh Lêo Cả đã nói như sau: “Mỗi ngày và mỗi giây phút, Mẹ đồng trinh vẫn còn trưng bày việc Chúa Cứu thế giáng-sinh trước tâm trí những tín hữu nào suy gẫm các mầu nhiệm thánh. Khi linh hồn nhấc lên để ca ngợi Chúa Tạo Thành, dù khi tâm hồn xao xuyến van nài, dù khi hân hoan ca khen, dù khi dâng hiến hy sinh, thì không có chi có khả năng thu hút cặp mắt thiêng liêng và đức tin hơn là mầu nhiệm của Con Thiên Chúa sinh từ Cha và hiện hữu từ nguyên thủy với Cha đã sinh ra bởi một người nữ... Tâm trí chúng ta dán chặt vào, ra như thấy sờ sờ trước mắt, cuộc đối thoại giữa thiên sứ Gabriel với Đức Maria đang ngơ ngác, cũng như việc thụ thai do quyền năng của Thánh Thần được hứa sẽ diễn ra cách lạ lùng và cũng được tiếp nhận với đức tin một cách lạ lùng” (In Nativitate Domini Sermo VI, 1: CCL 138, p.125). Như thế ta thấy rằng Thánh Lêo Cả đã khuyến khích việc chiêm ngắm mầu nhiệm Thiên Chúa Nhập Thể, một thói tục đã được thực hành rồi. Thế nhưng, ngoài việc chiêm ngắm trong tâm trí, các tín hữu còn nhắc nhớ qua câu kinh nữa, bằng cách lặp lại lời chào của thiên sứ Gabriel, tục gọi là kinh Kính Mừng. Bên các Giáo Hội Đông Phương, từ thế kỷ VI, lời chào của sứ thần “Ave” được quảng diễn thành một trường thi chào Đức Maria “Akathistos”, với 156 câu Ave. Nhưng đây chỉ là những vết sơ khởi về việc tưởng niệm mầu nhiệm truyền tin và nhập thể. Dù sao thì cũng nên biết là từ thế kỷ VI, các tín hữu đã ghép thêm lời chào của thiên thần Gabriel (kính mừng Maria) với lời chúc tụng của bà Ysave (bà có phước lạ hơn mọi người nữ). Tuy nhiên, phải chờ tới thời Trung Cổ mới thấy những tài liệu về kinh Truyền Tin, gắn liền với những tập tục khác kèm theo. Các đan viện Xitô có thói quen giật chuông khi mặt trời lặn, trùng vào lúc các đan sĩ kết thúc kinh cuối ngày (Completorium) khi quỳ gối hát kinh Lạy Nữ Vương và kinh Kính Mừng. Bắt chước các đan viện, nhiều nhà thờ chánh toà hay giáo xứ cũng giật chuông vào ban chiều để nhắc nhở các tín hữu hãy ngưng công chuyện đồng áng và chuẩn bị trở về nhà. Khi nghe tiếng chuông, các tín hữu cũng theo gương các đan sĩ đọc kinh kính Đức Mẹ, cụ thể là ba kinh kính mừng, để kính nhớ sự Nhập Thể, bởi vì người ta cho rằng thiên thần truyền tin cho Đức Mẹ vào ban chiều. Các tu sĩ Dòng Phanxicô, tuân theo nghị quyết của tổng hội năm 1269, đã truyền bá thói quen đánh chuông chiều và đọc ba kinh Kính Mừng.

Như vậy lúc đầu các tín hữu đọc kinh Truyền Tin vào buổi tối chứ không phải vào buổi trưa như ở Rôma hay sao?

Tôi nói chưa hết. Vào giai đoạn này, kinh Truyền Tin chưa có hình thù như ta có bây giờ. Khi nghe tiếng chuông chiều, các tín hữu đọc ba kinh Kính Mừng để kính nhớ biến cố thiên sứ Gabriel truyền tin cho Đức Mẹ. Tục lệ này càng đi sâu rộng vào dân gian khi mà chính Đức Thánh Cha Gioan XXII (+1334) ban ân xá cho những ai quỳ gối đọc ba kinh Kính Mừng khi nghe chuông chiều, và chính người du nhập tập tục đó vào Rôma vào năm 1327. Nhưng trước đó không lâu (nghĩa là cuối thế kỷ XIII), vài nơi còn giật chuông vào cả ban sáng nữa, dấu hiệu bắt đầu một ngày mới, trùng vào lúc các đan sĩ nguyện giờ Nhất (Prima) kính nhớ Chúa Phục Sinh. Nhưng đó là chuyện của các đan sĩ; phần giáo dân thì vốn đã quen đọc 3 kinh Kính Mừng khi nghe chuông chiều rồi, cho nên bây giờ nghe tiếng chuông ban sáng họ cũng đọc ba kinh Kính Mừng, để cầu khẩn người mà họ chào kính như là “Sao mai, rạng đông, rạng rỡ như mặt trời”. Còn tập tục đọc kinh Truyền Tin vào ban trưa thì trễ hơn. Theo các sử gia, thì trước đây, có vài nơi đã giật chuông vào 12 giờ trưa ngày thứ sáu để kính nhớ Chúa Giêsu chịu tử nạn trên thập giá. Vào năm 1456, ĐTC Callistô III (bulla Cum his superioribus annis), truyền mỗi ngày phải giật chuông trong khoảng từ giữa trưa và ba giờ chiều, và đọc 3 kinh Lạy Cha – 3 kinh Kính Mừng, để xin Chúa gìn giữ châu Âu cho khỏi bị quân Thổ-nhĩ-kỳ xâm chiếm. Vài năm sau, vua Louis IX bên Pháp muốn đánh chuông vào 12 giờ trưa để nhắc nhớ các tín hữu đọc 3 kinh Kính Mừng cầu xin ơn thái bình thịnh vượng. Sáng kiến của nhà vua được đức Sistô IV tán thưởng và ban ơn xá cho ai đọc ba kinh Kính Mừng để cầu cho hoà bình (vào năm 1475).

Như vậy thì nguồn gốc của kinh Truyền Tin là việc đọc ba kinh Kính Mừng khi nghe chuông nhà thờ giật vào lúc chiều, sáng và trưa. Thế còn các lời nguyện khác được thêm vào từ lúc nào?

Như bạn vừa thấy, để kính nhớ biến cố thiên thần Truyền Tin, các tín hữu đã lặp lại lời của thiên sứ Gabriel chào Đức Mẹ: “Kính Mừng Maria...”. Tuy nhiên dần dần nảy ra hai tục lệ khác nhau: một tục lệ đọc ba kinh Kính Mừng như một việc đạo đức riêng biệt, và một thói tục khác chêm ba câu Phúc Âm vào sau mỗi kinh Kính Mừng, thành kinh Truyền Tin như ngày nay. Ba câu ấy trích từ Luca 1,26.38 và Gioan 1,14, và kết thúc với lời nguyện của bài lễ Truyền Tin. Hình thức này hoàn tất vào thế kỷ XVI, và người ta thấy bản kinh trong một quyển sách giáo lý xuất bản ở Venise (Italia) năm 1560. Từ một tục lệ do lòng đạo đức bình dân, kinh Truyền Tin được Toà Thánh phê chuẩn và cho in vào phụ trương của các sách nguyện từ năm 1570 trở đi. Năm 1724, đức Beneđictô XIII ban ơn đại xá cho ai quỳ gối đọc kinh Truyền Tin suốt một tháng khi nghe chuông nhà thờ đổ ba lần mỗi ngày. Từ đó nói được là kinh Truyền Tin trở thành phổ thông trong toàn thể Giáo Hội La-tinh. Nhưng mà sự tiến triển chưa chấm dứt. Năm 1742, đức Bênêđictô XIV truyền rằng vào các ngày chúa nhật, thì các tín hữu đứng chứ không quỳ gối; và trong mùa Phục Sinh thì thay thế kinh truyền tin bằng kinh “Lạy Nữ vương thiên đàng”. Năm 1815, đức Piô VII ban thêm ân xá cho ai thêm ba kinh sáng danh để tạ ơn Chúa Ba Ngôi vì những hồng ơn ban cho Đức Maria. Và để cổ động cho việc đạo đức này, vào năm 1884, đức Lêo XIII cho phép những ai không thuộc kinh Truyền Tin được thay thế bằng 5 kinh kính mừng. Nhân dịp kỷ niệm 100 năm Đức Mẹ hiện ra ở Lộ đức, Đức Piô XII đã xướng kinh Truyền Tin qua làn sóng của đài phát thanh Vatican ngày 11/2/1958. Vị kế nhiệm, đức Gioan XXIII đã du nhập thói tục đọc kinh Truyền Tin ở quảng trường Thánh Phêrô mỗi trưa Chúa Nhật trước khi ban phép lành Toà Thánh.

Lúc nãy, cha nói rằng nguồn gốc của kinh Truyền Tin bắt nguồn từ tục lệ đọc ba kinh Kính Mừng; nhưng sau đó tục lệ này biến thái thành hai hình thức khác nhau: một đàng là kinh Truyền Tin với việc xen thêm ba câu kinh thánh và lời nguyện. Thế còn hình thức nào nữa?

Tục lệ đọc ba kinh Kính Mừng được quảng bá rộng rãi nhờ tích của chị Matilđê Hackenborn, dòng Xitô (k.1240-1298). Chị thuật lại rằng Đức Mẹ đã hứa với chị là nếu ai trung thành mỗi ngày đọc 3 kinh Kính Mừng kính Chúa Ba Ngôi, thì vào lúc lâm chung Mẹ sẽ đến bên giường giúp đỡ xua đuổi các chước cám dỗ. Thị kiến của Matilđê được Thánh Gertruđê ghi lại trong tác phẩm “Liber specialis gratiae”, một sách best-seller thời Trung Cổ. Tuy nhiên, có rất nhiều vị thánh đã đọc và quảng bá thói tục đó tuy chẳng tin gì vào thị kiến của Matilđê. Thí dụ ngay từ thế kỷ XIII, Thánh Antôniô Pađôva quen đọc ba kinh Kính Mừng để xin Đức Mẹ ơn được thanh khiết trong tư tưởng, trong con tim và trong thân xác. Vào thời cận đại, trong số nhiều vị thánh đã cổ động việc đọc ba kinh kính mừng ta có thể kể ba vị thuộc Dòng Chúa Cứu thế: Alphongsô, Giêrađô, Clêmentê. Thậm chí có nhiều vị giáo hoàng còn du nhập vào các sách phụng vụ nữa; thí dụ đức Piô V theo gương Dòng Camalđôli và Phanxicô, đã truyền đọc ba kinh Kính Mừng trước khi xướng kinh thần vụ; đức Lêô XIII đã truyền đọc 3 kinh Kính Mừng sau Thánh Lễ; cả hai thói tục này mới bị bỏ với việc duyệt lại sách lễ và sách nguyện sau công đồng Vaticanô II. Một hình thức khác nữa là đọc 3 kinh Kính Mừng trước khi lần chuỗi Mân Côi: vì vậy mà ở đầu các tràng chuỗi, ta thấy lòng thòng một dây gắn tượng thánh giá với 5 hạt: một hạt đọc kinh Lạy Cha, ba hạt đọc 3 kinh Kính Mừng, và 1 hạt đọc kinh Sáng danh. Trong khi mà kinh Truyền Tin cử hành mầu nhiệm nhập thể, kinh mân côi kính nhớ mầu nhiệm Nhập Thể và Cứu Chuộc, thì có tác giả muốn coi việc đọc ba kinh Kính Mừng để kính Ba Ngôi Thiên Chúa vì những hồng ân đã ban cho Đức Maria. Nhưng cũng có thể nói ngược lại như thế này: ta đọc ba kinh Kính Mừng để nhờ Đức Maria làm cửa ngõ dẫn ta tới cùng Ba Ngôi Thiên Chúa. Dĩ nhiên, không ai cấm thêm những ý chỉ khác nữa, thí dụ xin Đức Mẹ đến giúp chúng ta “là kẻ có tội, bây giờ và nhất là trong giờ lâm tử”.