HIỂU ĐỂ SỐNG ĐỨC TIN

TẠI SAO GỌI LÀ KINH CẦU ĐỨC BÀ?

Lm. Phan Tấn Thành, O.P.

Các tín hữu Việt Nam có thói quen đọc kinh cầu Đức Bà, đặc biệt là trong tháng năm này. Tại sao gọi là “kinh cầu Đức Bà”?

Trong câu hỏi vừa nêu, cần phải tách rời hai vấn đề: 1) Tại sao gọi là kinh cầu? 2) Tại sao gọi là kinh cầu Đức Bà? Tôi xin bắt đầu với câu hỏi thứ nhất: tại sao gọi là kinh cầu? Có kinh nào mà chẳng cầu?

Như chúng ta đã biết, tiếng “kinh” nguyên gốc Hán có nghĩa là sách (thí dụ Ngũ kinh, Thánh kinh), rồi dần dần được mở rộng đến lời chép ở trong sách đó, nhất là những lời cầu nguyện. Từ đó ta có “sách kinh”, nghĩa là sách chứa đựng những kinh nguyện. Tâm thức thường tình của con người đọc kinh là “mong ước, van xin” các vị thần linh điều gì đó, vì thế mà hai tiếng “kinh” và “cầu” thường đi liền với nhau. “Cầu” có nghĩa là tìm, kiếm, xin, mong, cậy; và đôi khi chúng ta cũng gặp thấy nó trong ngôn ngữ hàng ngày: cầu cứu, cầu hoà, cầu mong, cầu cạnh, cầu may, cầu tài. Do đó phải nói rằng kinh nào thì cũng là kinh cầu hết, chứ chẳng có kinh nào mà “không cầu”. Tuy nhiên, không rõ từ bao giờ, tại Việt Nam, người ta đã dành tiếng kinh cầu để dịch tiếng litaniae từ la ngữ. Số kinh cầu không nhiều cho lắm: ngoài kinh cầu Đức Bà, giáo dân Việt Nam còn đọc kinh cầu Trái Tim Chúa, kinh cầu các thánh, kinh cầu thánh Giuse. Có lẽ người ta đã dịch “litaniae” là kinh cầu là tại vì trong đó cứ lặp lại lời thưa “cầu cho chúng tôi” sau mỗi câu xướng. Thế nhưng điều này chỉ đúng cho kinh cầu kính Đức Maria hay là các thánh, còn trong kinh cầu kinh Thánh Tâm thì lời thưa là “thương xót chúng tôi”.

Thế còn trong nguyên ngữ La-tinh, tiếng “litaniae” có nghĩa là gì?

Trước đây có người đã nghĩ rằng litaniae bởi động từ “litare” có nghĩa là: dâng một hy lễ cầu may. Nhưng ngày nay các học giả cho rằng litaniae gốc từ tiếng Hy-lạp “lité” có nghĩa là lời khẩn nài. Hình thức đặc biệt của litaniae là các lời khẩn nài ấy được móc nối với nhau thành từng chuỗi theo hình thức đối đáp; nghĩa là một người (thí dụ ca viên) xướng lên một ý nguyện, cộng đoàn đáp lại với một lời cầu: “Xin Chúa nghe lời chúng con, xin Chúa nhận lời chúng con”; hoặc: “Xin Chúa thương xót chúng con”. Hình thức cầu nguyện này rất cổ điển, và ta thấy dấu vết trong Thánh Lễ ở phần nhập lễ (Xin Chúa thương xót chúng con, xin Chúa Kitô thương xót chúng con), hoặc ở phần lời nguyện giáo dân (Xin Chúa nhậm lời chúng con); còn trong phụng vụ giờ kinh, thì sau công đồng Vaticano II, người ta cũng đã tái lập hình thức các “lời cầu” (preces) ở cuối giờ Kinh sáng và Kinh tối. Dần dần bên cạnh những lời khẩn cầu dâng lên Chúa (supplicationes), các tín hữu còn thêm những lời van xin (invocationes) hướng tới các thánh: người ta tuyên dương công nghiệp của các vị, và xin các vị hãy cầu bầu cho mình.

Rồi từ đó nảy ra kinh cầu các thánh, phải không?

Đúng vậy. Tuy nhiên cũng cần thêm rằng trong kinh cầu các thánh xuất hiện từ thế kỷ VII trở đi, thì chúng ta thấy người ta kết nạp cả hai phần: một phần van xin bằng cách kêu van các thánh trên trời (“cầu cho chúng tôi”), và danh sách các vị càng ngày càng dài ra; phần thứ hai thì gồm bởi những lời khẩn cầu (Xin Chúa nhậm lời chúng con).

Nhưng mà ngày nay đâu có ai đọc kinh cầu các thánh nữa đâu?

Tôi không rõ tại Việt Nam có ai còn đọc kinh cầu các thánh ở tư gia hay ở nhà thờ nữa hay không. Nhưng có điều chắc là phụng vụ đã buộc đọc kinh cầu này vào vài buổi cử hành bí tích hay á-bí-tích: khi rửa tội cho người lớn, khi truyền chức, khi cung hiến trinh nữ hay khấn dòng, khi cung hiến thánh đường hay bàn thờ. Tuy nhiên, nên biết rằng các sách phụng vụ sau công đồng Vaticanô II đã trình bày những hình thức kinh cầu khác nhau tùy theo hoàn cảnh, khi ngắn khi dài, với danh sách của các thánh được thích ứng với cộng đồng tham dự.

Thế còn kinh cầu Đức Bà ra đời từ hồi nào?

Theo các sử gia, thì kinh cầu Đức Bà thoát thai từ kinh cầu các thánh. Thực vậy, thay vì xướng kinh “thánh Maria, cầu cho chúng tôi” như các vị thánh khác, các tín hữu kéo dài các tước hiệu của người ra: Mẹ Chúa Trời, Mẹ đồng trinh, vân vân, tới lúc mà người ta thấy rằng các tước hiệu ấy đủ làm thành một kinh cầu biệt lập, từ thế kỷ XII.

Nhưng trước khi đi vào nội dung của kinh cầu Đức Bà, chúng ta hãy đi tiếp lịch sử các kinh cầu. Từ thế kỷ XVI trở đi, con số các kinh cầu tăng gia, không những là với những hình thức khác nhau của kinh cầu các thánh hay kinh cầu Đức Bà, nhưng còn có những kinh cầu dành cho các mầu nhiệm Chúa Cứu thế, kinh cầu thánh danh Chúa Giêsu, kinh cầu ông thánh nọ bà thánh kia. Dĩ nhiên, không thiếu người la hoán lên là “loạn kinh cầu”. Vì thế mà dưới thời Đức Giáo hoàng Clêmentê VIII, Bộ Thánh Vụ năm 1601 đã chặn lại hết các thứ kinh cầu, chỉ trừ kinh cầu các thánh và kinh cầu Đức Bà theo phương thức đã được phê chuẩn. Quyết định của đức Clêmentê VIII còn được Toà Thánh lặp lại vào những năm 1727 (Bênêđictô XIII), 1757 (Bênêđictô XIV) và 1897. Tuy nhiên, nhiều giáo phận và Dòng tu vẫn tiếp tục lưu hành hay soạn thêm kinh cầu, dưới danh nghĩa là chỉ để đọc tư riêng. Tuy nhiên phải hiểu tiếng đọc riêng có nghĩa là không đọc chung ở nhà thờ chứ không có nghĩa là đọc chui, đọc lén. Chính vì vậy mà một số kinh cầu được quảng bá khá rộng rãi, và dần dần đã được Toà Thánh phê chuẩn: thí dụ kinh cầu kính thánh danh Chúa Giêsu (bị cấm năm 1640, sau đó được làm ngơ năm 1862 và được chuẩn y năm 1886). Kinh cầu Thánh Tâm Chúa Giêsu đã ra đời dưới nhiều hình thức khác nhau ngay từ thế kỷ XVII-XVIII sau khi Chúa hiện ra với thánh nữ Margarita Maria, nhưng chỉ được đức Lêô XIII châu phê vào năm 1899. Kinh cầu Thánh Giuse được chuẩn y dưới thời đức Piô X năm 1909.

Hình như nãy giờ cha mới trả lời cho vấn nạn thứ nhất: kinh cầu là gì? Chừng nào mới sang vấn nạn thứ hai?

Vâng, bây giờ tôi xin trả lời cho vấn nạn thứ hai: tại sao gọi là kinh cầu Đức Bà. Nhưng mà vấn nạn này còn lôi kéo lòng thòng thêm một câu hỏi khác nữa: tại sao lại gọi Đức Maria là Đức Bà? Không hiểu có ai đặt ra câu hỏi này chưa, nhưng thiết tưởng đã đến lúc phải đặt, tại vì từ mấy năm nay chúng ta đã thấy xuất hiện nhiều đức ông.

Trong mục giải đáp thắc mắc, đã có người trả lời về cái từ “đức ông” dịch từ “monseigneur” tiếng Pháp; do đó tôi không trở lại nữa. Thế còn đức bà thì sao? Trong tiếng Việt Nam, “Bà” vừa có ý chỉ người phụ nữ nói chung (đàn ông, đàn bà), nhưng vừa dành riêng cho các phụ nữ cao niên (bà cụ, bà nội, bà ngoại). Nếu khi ra đường gặp một cô còn xuân xanh mà ta chào là “thưa bà” thì e rằng tính mạng sẽ mất an toàn. Thế tại sao gọi Đức Maria là “Đức Bà”? Thưa là tại vì dịch vụng về từ tiếng Pháp “Notre Dame”. Nên biết rằng trong xã hội cổ truyền, không phải tất cả các phụ nữ đều được gọi là “dame” tiếng Pháp (hay là “lady” tiếng Anh). Để gọi chung các bà, thì có tiếng femme hay là woman. Còn “dame” (hay “lady”) dành riêng cho các phụ nữ quý tộc: các mệnh phụ, phu nhân, công nương. Nó đối lại với ông hoàng, lãnh chúa (seigneur, lord). Sự đối chọi này còn rõ hơn nữa trong các tiếng Italia và Tây ban nha (Signore – signora; senor – senora). Đó là điều thứ nhất đáng ta lưu ý, trong các ngôn ngữ Âu Châu, khi gọi Đức Maria là Đức Bà thì người ta không có ý coi người như một bà cụ đâu. Điều thứ hai: thế thì tại sao gọi người là Notre Dame, Our Lady, Nostra Signora, Nuestra Senora? Tục lệ này ra đời từ thế kỷ XIII, bắt đầu từ tiếng La-tinh “Domina nostra”. Chúng ta biết rằng đức tin công giáo đã tuyên xưng Đức Kitô là “Chúa chúng tôi” (Dominus noster Jesus Christus), Đức Maria được đặt kề đó như là Domina nostra, mà đã có người dịch ra tiếng Việt là “Chúa bà chúng tôi”. Theo các sử gia, khởi đầu tục lệ gọi Đức Maria là “chúa bà” không phải do một quan điểm thần học bàn về mối liên lạc giữa Đức Kitô với Mẹ Maria, nhưng chỉ là một phản ứng lại tập tục thời Trung Cổ. Vào thời đó, nhiều nông dân đến xin thần phục lãnh chúa để xin được bảo vệ che chở; có những thanh niên thì đăng ký làm hiệp sĩ để phục vụ đánh giặc cho một ông hoàng; nhưng cũng có những chàng trai si tình hơn thì dâng hiến trái tim cho một tiểu thư mà họ coi như là “nữ hoàng của lòng anh” (lẽ ra phải nói nữ hoàng của lòng em mới đúng). Một số Kitô hữu muốn bắt chước tục lệ đó, và cũng dâng trót con tim cho một nữ hoàng, nhưng không phải là một tiểu thư kiều diễm nào mà là chính Đức Maria. Vì thế mà họ trao tặng cho người tước hiệu là: bà chúa, bà hoàng, tôn nương. Tác giả nổi tiếng hơn cả mở màn cho phong trào này là thánh Bênađô.

Có phải là Thánh Bênađô đã viết ra kinh cầu Đức Bà hay không?

Có điều lạ là trong tiếng La-tinh, người ta không gọi là “kinh cầu Đức Bà”, nhưng là “kinh cầu đức Trinh Nữ Maria” (Litaniae de beata Maria Virgine). Trải qua lịch sử đã có tới 25 kinh cầu kính Đức Maria. Hình thức mà chúng ta thường đọc được gọi là “kinh cầu Loretô”, vì được dùng ở nhà thờ kính Đức Mẹ ở Loretô, miền Trung nước Italia, từ thế kỷ XVI. Thêm vào đó, bên cạnh hình thức litaniae, lại còn có hình thức ca ngợi (laudes Virginis). Vì thế tuy Thánh Bênarđô không phải là tác giả của kinh cầu Loretô, nhưng người đã sang tác nhiều bài ca ngợi theo thể văn thời đó. Như đã nói trên đây, từ thế kỷ XVIII, các thứ kinh cầu đã bị dẹp hết chỉ trừ kinh cầu Lorêtô. Nhưng nhiều Dòng vẫn sử dụng những hình thức cổ truyền của mình một cách âm thầm, thí dụ như Dòng Đaminh có kinh cầu Đức Mẹ riêng, dài hơn kinh cầu Lorêtô nhiều. Trong tiếng La-tinh, người ta gọi là Kinh cầu Đức Mẹ chứ không phải là Đức Bà. Và ta nhận thấy, có 5 loạt các tước hiệu kính Đức Maria: thứ nhất, gồm ba tước hiệu lấy từ kinh cầu các thánh (Thánh Maria, Mẹ Thiên Chúa, trọn đời đồng trinh); loạt thứ hai gồm 10 lời kêu cầu dưới danh hiệu là “Mẹ” (Mater); loạt thứ ba gọi Đức Maria là “Trinh nữ” (Virgo, gọi “đức Nữ” là sai); loạt thứ bốn gồm danh hiệu gắn với “Đức Bà” thì cũng trật nữa, bởi vì tiếng La-tinh không có, mà gọi thẳng luôn tước hiệu, thí dụ: “Toà Đấng khôn ngoan, cầu cho chúng tôi”. Loạt thứ năm gồm những tước hiệu gắn với “Nữ vương” (hay: Nữ hoàng, Hoàng hậu: Regina).