HIỂU ĐỂ SỐNG ĐỨC TIN

KINH KÍNH MỪNG ĐƯỢC THÀNH HÌNH TỪ HỒI NÀO?

Lm. Phan Tấn Thành, O.P.

Bài trình thuật cuộc Truyền Tin bắt đầu bằng lời của thiên sứ Gabriel chào Đức Maria “Kính mừng kẻ đầy ơn phúc, Thiên Chúa ở cùng chị”. Có phải đây là nguồn gốc của kinh Kính Mừng không?

Kinh Kính Mừng có một lịch sử lâu dài. Hình thức mà chúng ta đọc hiện nay chỉ trở thành cố định từ thế kỷ XVI, nghĩa là với việc ban hành sách nguyện do sắc lệnh của Đức Thánh Cha Piô V vào năm 1568. Xét theo cơ cấu hiện hành, kinh Kính Mừng gồm có hai phần. Phần đầu mang tính cách chúc tụng, được ghép từ hai đoạn văn trích từ Tin Mừng của Thánh Luca: “Kính mừng Maria, đầy ơn phước, Đức Chúa Trời ở cùng bà”; đây là lời chào của thiên sứ Gabriel; “Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ, và Giêsu con lòng bà gồm phúc lạ”. Đây là lời chào của bà Ysave. Phần thứ hai, mang tính cách khẩn nài: “Thánh Maria, Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng tôi là kẻ có tội, khi này và trong giờ lâm tử. Amen”. Phần thứ hai, tương đối mới, bởi vì chỉ được thêm vào từ thế kỷ XIV. Nói cách khác, trước đó, kinh Kính Mừng chỉ gồm có phần chúc tụng mà thôi.

Phần chúc tụng, gồm hai câu trích từ Tin Mừng Thánh Luca, đã thành hình ngay từ đầu Hội Thánh rồi, có phải vậy không?

Không. Câu chuyện không đơn giản như thế. Bản kinh “Lạy Cha” mà chúng ta đọc ngày nay đã thành cố định từ đầu Hội Thánh, mà Thánh Matthêu đã ghi lại trong sách Tin Mừng (chương 6, câu 9-13), tuy dù chúng ta còn thấy một mẫu thức nữa ngắn hơn ở Tin Mừng Thánh Luca (chương 11, câu 2-4). Kinh Kính Mừng thì khác. Không có một mẫu thức nào được ghi lại trong Tân Ước. Kể cả những lời mà chúng ta đọc ngày nay, tuy được ghép từ hai đoạn của sách Tin Mừng, nhưng cũng có đôi chút sửa đổi thêm thắt.

Thêm ở chỗ nào?

Như vừa nói, phần đầu của kinh Kính Mừng lấy lại lời chào của thiên sứ Gabriel và lời chào của bà Ysave. Kinh Kính Mừng đã thêm danh thánh Maria và Giêsu vào hai lời chào đó. Thực vậy, thiên sứ Gabriel chỉ nói rằng: “Kính chào kẻ đầy ơn phúc, Chúa ở với chị”. Theo nguyên bản, “Kẻ đầy ơn phúc” (trong tiếng Hy-lạp chỉ là một từ kecharitoménê) được coi như một tên (hay biệt hiệu); sau này, người ta mới thêm tên “Maria (Kính chào Maria), và “kẻ đầy ơn phúc” được coi như một trạng thái.

Từ lúc nào, tên Maria được xen vào lời chào của Thiên Sứ Gabriel?

Không thể nào xác định rõ rệt, bởi vì thiếu tài liệu. Từ thế kỷ III-IV, người ta thấy những hàng chữ viết trên nhà nguyện Truyền Tin ở Nazareth “Ave Maria”. Tuy nhiên, đó chỉ là sáng kiến của vài tín hữu thôi, chứ chưa thành tục lệ. Bằng cớ là vào thế kỷ VIII, Thánh Gioan Đamascô trong bài giảng lễ Truyền Tin, vẫn còn chú giải đoạn văn giống y như bản văn Tin Mừng “Kính chào, kẻ đầy ơn”, chứ không thêm tên “Maria”. Bài Thánh Thi Akathistos, với hơn 150 lần lặp đi lặp lại lời chào Ave, nhưng vẫn không nhắc đến tên Maria. Điều này cũng nói được về việc thêm danh “Giêsu” vào lời chào của bà Ysave, nghĩa là không thể xác định được từ lúc nào. Tin Mừng Thánh Luca chỉ có những lời: “Chị được chúc phúc hơn mọi người nữ, và hoa trái từ lòng chị đáng chúc tụng”.

Trong sách Tin Mừng của Thánh Luca, lời chào của thiên sứ nằm trong trình thuật Truyền Tin, còn lời chào của bà Ysave nằm trong trình thuật thăm viếng. Từ lúc nào hai lời chúc tụng được gom lại thành một lời kinh?

Thật khó xác định. Một điều chắc là trong phụng vụ Byzantin vào lễ Truyền Tin, hồi thế kỷ VI-VII, chúng ta đã gặp thấy nhiều đoạn chúc tụng như sau: “Kính chào, ôi kẻ được chúc tụng và tràn ân sủng Thiên Chúa. Chúc tụng hoa trái từ lòng bà, Đấng nhờ bà đã ban cho thế giới lòng thương xót. Kính chào, ôi kẻ đầy ơn phúc, bà sẽ sinh ra Người Con nhiệm sinh từ Chúa Cha từ muôn thuở và sẽ cứu thoát dân mình khỏi tội lỗi. Kính chào, kẻ đầy tràn ân sủng, Chúa ở cùng bà, kính chào, Trinh nữ tinh tuyền. Kính chào, vị hôn thê không kết hôn; kính chào, Mẹ của sự sống; chúc tụng hoa trái của lòng bà”. Qua thế kỷ VIII, Thánh Gioan Đamascô đã sử dụng công thức như sau: “Kính chào, Đấng đầy ơn sủng, Chúa ở cùng bà. Bà được chúc phúc hơn các phụ nữ, và chúc tụng hoa trái từ lòng bà”.

Như vậy là phần đầu của kinh Kính Mừng đã được hình thành từ thế kỷ VIII rồi phải không?

Chưa đâu, bởi vì như bạn thấy, tuy rằng trong công thức của Thánh Gioan Đamascô, hai lời chào đã được ghép với nhau, nhưng vẫn chưa có hai tên “Maria” và “Giêsu”. Theo các sử gia, tên Maria được xen trước, trong bài ca-dâng-lễ Chúa Nhật mùa Vọng trong phụng vụ La-tinh, “Ave Maria gratia plena, Dominus tecum, benedicta tu in mulieribus, et benedictus fructus ventris tui”, còn danh Giêsu thì muộn hơn. Dù sao thì đó mới chỉ nói đến công thức mà thôi. Phải chờ tới thế kỷ XI, thì công thức này mới trở thành lời kinh, nghĩa là được các tín hữu sử dụng để cầu nguyện. Dù sao, chứng tích đầu tiên về việc xen thêm danh Giêsu được thấy trong một bài giảng của cha Amêđê viện phụ Xitô (+ k.1159). Từ thế kỷ XIII trở đi, nhiều công đồng miền và tổng hội dòng tu đã truyền đọc kinh Kính Mừng, cùng với kinh Lạy Cha và kinh Tin Kính, như những kinh nguyện căn bản của Kitô Giáo. Dĩ nhiên là ở giai đoạn này, kinh Kính Mừng mới chỉ có phần thứ nhất mà thôi.

Có phải là kinh Kính Mừng được phổ biến mạnh nhờ việc truyền bá kinh Mân Côi không?

Đúng thế, nhưng cần phải hiểu kinh Mân Côi như thế nào. Một lưu truyền trước đây cho rằng chính Đức Mẹ đã hiện ra và trao cho Thánh Đaminh một tràng hạt, như khí cụ để chiến đấu chống lại các tà giáo. Tuy nhiên, trong thế kỷ XX, các sử gia đã đặt lại vấn đề lai lịch kinh Mân Côi vì họ đòi phải trưng dẫn chứng tích rõ ràng chứ không chỉ an tâm với các dư luận truyền khẩu. Những kết luận tạm thời có thể nói như thế này. Hình thức tràng chuỗi Mân Côi, với 15 mầu nhiệm Vui Thương Mừng, chỉ được thành hình vào cuối thế kỷ XV nhờ sự quảng bá của cha Alain de la Roche, dòng Đaminh (1428-1475), nghĩa là sau khi Thánh Đaminh qua đời 250 năm. Tuy nhiên, vào thời của Thánh Đaminh, đã có vài điểm manh nha rồi. Một tu sĩ sống vào thời buổi đầu dòng (tên là Rômêô de Liva (+1261) khi qua đời, cầm trên tay một sợi dây thắt nút, dùng để đếm các kinh Kính Mừng, và thầy này đọc cả ngàn lần mỗi ngày. Năm 1266, tổng hội dòng Đaminh đã truyền cho các thầy trợ sĩ đọc thêm một số kinh Kính Mừng kèm theo kinh Lạy Cha, tương đương với số Thánh Vịnh mà các giáo sĩ đọc trong kinh Thần Vụ. Thánh Tôma Aquinô cũng đã viết một sách chú giải kinh Kính Mừng, kết thúc với các lời benedictus fructus ventris tui, nghĩa là vẫn chưa có thêm danh Chúa Giêsu, điều này chỉ trở thành phổ thông khi bước sang thế kỷ XIV. Do ảnh hưởng của dòng Đaminh, từ năm 1277, nhiều phụ nữ Béguines ở Gand (nay thuộc nước Bỉ) bắt đầu tục lệ đọc 50 kinh Kính Mừng mỗi ngày 3 lần.

Đó là nói đến phần thứ nhất của kinh Kính Mừng. Còn phần thứ hai thì sao?

Trước khi trả lời câu hỏi này, cần phải nhắc lại nhận xét đã nói lúc đầu khi đối chiếu kinh Lạy Cha với kinh Kính Mừng. Kinh Lạy Cha đã thành khuôn khổ nhất định ngay từ sách Tân Ước, còn kinh Kính Mừng thì được chắp nối từ nhiều truyền thống khác nhau, và không thành hình đồng loạt. Chúng ta thấy rằng mãi đến cuối thế kỷ XIII, thì hình thức thứ nhất mới thành nhất định theo hình thức chúng ta đọc ngày nay. Nói như thế không có nghĩa là phải chờ đến hết thế kỷ XIII, người ta mới ráp thêm phần thứ hai vào. Phần thứ nhất của kinh Kính Mừng mang hình thức chúc tụng, còn phần thứ hai thì mang tính cách khẩn nài. Những lời kinh khẩn nài Đức Maria đã xuất hiện từ lâu rồi. Chứng tích xưa nhất là kinh Sub tuum praesidium vào thế kỷ III, quen gọi là kinh Trông Cậy: “Chúng tôi trông cậy rất thánh Đức Mẹ Chúa Trời, xin chớ chê chớ bỏ lời nguyện, trong cơn gian nan thiếu thốn, Đức Nữ đồng trinh hiển vinh sáng láng, bèn chữa chúng tôi cho khỏi mọi sự dữ”. Nói chung, các kinh chúc tụng Đức Maria bên Đông Phương cũng như bên Tây Phương đều kết thúc với lời khẩn nài, tựa như là: “Xin Mẹ cầu cho chúng con là kẻ tội lỗi, xin Mẹ cầu cùng Chúa Cứu thế tha tội cho chúng con”. Vì thế không lạ gì mà từ khi tục lệ đọc kinh Kính Mừng được phổ biến (với công thức cố định của phần chúc tụng) thì người ta cũng thêm phần khẩn nài, với nhiều dạng thức uyển chuyển. Với việc cải tổ sách nguyện sau công đồng Trentô (năm 1568), kinh Kính Mừng mang hình thức cố định như hiện nay. Sách Giáo lý Hội Thánh công giáo đã dành hai số 2676-2677 để chú giải kinh Kính Mừng, lồng trong bối cảnh của lòng tôn sùng dành cho Đức Thiên Mẫu. Cần nhấn mạnh rằng lời cầu nguyện của chúng ta tiên vàn hướng lên Thiên Chúa Ba Ngôi. Kinh nguyện mà chúng ta hướng lên Mẹ Maria một đàng muốn biểu lộ sự kết hiệp với người để tạ ơn Thiên Chúa vì những hồng ân đã ban cho Mẹ, như ở trong kinh Magnificat. Đó cũng là ý nghĩa của phần thứ nhất của kinh Kính Mừng, với những lời chúc tụng Thiên Chúa, cũng như chúc tụng Chúa Giêsu. Mặt khác, Đức Maria đã thông hiệp với Chúa Giêsu trong mầu nhiệm cứu chuộc, đứng kề bên thập giá của Chúa. Vì thế chúng ta xin Mẹ chuyển cầu với Chúa cứu thế cho chúng ta được ơn thứ tha và hoà giải, cũng như giúp chúng ta tin tưởng tiến lại gần Chúa hơn.