HIỂU ĐỂ SỐNG ĐỨC TIN

TẠI SAO GỌI LÀ ÁO ĐỨC MẸ?

Lm. Phan Tấn Thành, O.P.

Tại Việt Nam, có người đeo hai miếng vải nhỏ trước ngực và sau lưng, và gọi là áo Đức Bà Carmêlô; người ta nói rằng đó là áo mà Đức Bà đã trao. Nhưng sao áo gì mà chỉ có hai miếng vải, mà chẳng có tay gì hết?

Thực ra, chúng ta gọi áo Đức Bà thì không chỉnh, bởi vì nó không phải là cái áo, đừng kể khi chúng ta gọi bất cứ cái gì che ngực đều là “áo” hết, từ cái áo yếm cho tới cái áo giáp. Chúng ta thử lấy thí dụ của các tu sĩ dòng Đaminh để chứng tỏ cái sự lộn xộn đó: họ mang một cái áo dòng che phủ toàn thân (đúng là áo thật); kế đó có thêm hai vạt ở trước ngực và sau lưng (có người nhạo là câu đối), và họ gọi là áo phép hay áo Đức Bà. Thực ra trong nguyên ngữ La-tinh, thì người ta không gọi hai câu đối là “áo” (habitus) nhưng là scapularium, nghĩa là cái gì phủ cái scapulae (vai, lưng). Trong lịch sử các dòng tu, người ta đã thấy các đan sĩ mang scapularium ngay từ thời cổ rồi, thí dụ trong luật Thánh Biển đức (chương 55): các đan sĩ khi làm việc thì khoác lên trên áo dòng cái scapularium, gồm có mảnh vải trước ngực và sau lưng. Để làm gì vậy? Có người nói rằng để khỏi làm bẩn chiếc áo dòng (tựa như người nấu bếp hoặc hầu bàn phải quàng cái tablier vậy); tuy nhiên, có tác giả thì cho rằng lý do không phải là để khỏi làm dơ áo dòng, nhưng mà vì cuốn áo dòng cho gọn, xét vì cái áo dòng quá thụng thịnh. Dù sao thì vào thời đó, y phục của các đan sĩ không có chi là đặc biệt cả: họ ăn mặc như các nông dân tá điền khi đi làm việc; và vì thế khi trời lạnh thì họ khâu thêm cái mũ để che đầu tránh mưa gió.

Thế thì nó có liên hệ gì tới Đức Bà đâu?

Nhưng mà dần dần các nông dân đổi mốt thời trang, và chỉ còn các đan sĩ giữ lại y phục cổ truyền, thành áo dòng. Câu chuyện áo Đức Bà ra đời vào thời Trung Cổ: các Dòng thi nhau giới thiệu áo của mình do trời ban xuống (thường là do Đức Mẹ) thí dụ: dòng Xitô, dòng Prémontré, dòng Đaminh, dòng Carmêlô, dòng Augustinô, dòng Tôi Tớ Đức Mẹ. Trong những lần hiện ra như vậy, Đức Mẹ thường hứa rằng ai mang áo dòng và bền đỗ trong Dòng thì sẽ đươc rỗi linh hồn, hoặc được che chở cho khỏi bị giam lâu trong luyện ngục.

Nhưng mà Đức Mẹ chỉ hứa cho ai mặc áo dòng, nghĩa là phải đi tu vào Dòng đó thì mới được hưởng sự che chở phải không?

Lúc đầu thì đúng như vậy đó: chỉ có ai vào Dòng, mang áo Dòng thì mới có thể hưởng nhờ những ân huệ hứa ban. Nhưng mà vào thời Trung Cổ cũng như thời nay, đâu có phải ai cũng đi tu được. Giả như hết mọi người đều đi tu thì lấy ai trông nom làng nước? Do đó, một số giáo dân tuy vướng mắc chuyện đời nhưng cũng ước ao chia sẻ tinh thần tu trì, vì thế họ xin kết nghĩa với các tu sĩ, quen gọi là hội viên dòng Ba. Và như dấu hiệu của sự liên kết ấy, họ xin được mặc áo dòng.

Cha nói áo dòng, nghĩa là áo dài thụng có tay, phải không?

Đúng như vậy, các giáo dân Dòng Ba cũng mặc toàn bộ áo dòng giống như các tu sĩ. Tuy nhiên, dần dần vì các giáo dân phải lăn xả vào đời, cho nên việc mặc áo dòng gây ra nhiều trở ngại, cho nên họ chỉ mang một dấu hiệu tượng trưng. Nhiều Dòng trao một scapularium thu gọn, nghĩa là gồm một tấm vải trước ngực và một tấm sau lưng; có dòng như dòng Phanxicô thì trao sợi dây; và có dòng thì chẳng có trao gì hết.

Nhưng mà tất cả đều gọi là áo Đức Mẹ hết, phải không?

Không phải như vậy. Thường người ta gọi áo Đức Mẹ cách riêng cho Dòng Carmêlô hay dòng Đaminh. Và như đã nói trên đây, trong gốc La-tinh, scapularium (dịch ra tiếng Pháp là scapulaire), chẳng phải là áo mà cũng chẳng nhất thiết gắn liền với Đức Mẹ. Người ta tính ra có tới cả chục loại scapulaire khác nhau, với đủ màu và đủ loại. Scapulaire của Dòng Chúa Ba Ngôi gồm vải trắng trên đó có thánh giá màu xanh và đỏ; scapulaire đen kính nhớ bảy sự đau đớn Đức Mẹ, của Dòng Tôi tớ Đức bà; scapulaire mầu nâu, dòng Carmêlô; scapulaire màu xanh dương kính Đức Mẹ vô nhiễm của dòng Teatino, scapulaire đỏ kính cuộc tử nạn Chúa, của Dòng Ladarist; scapulaire màu tím và vàng kính Thánh Giuse của dòng Capuxinô. Tuy nhiên có lẽ phổ thông hơn cả là scapulaire của Dòng Carmêlô, tục gọi là aó Đức Bà Carmêlô, không những vì dành cho cả những người không phải là hội viên Dòng Ba Carmêlô, nhưng vì còn có lễ phụng vụ kính nhớ vào ngày 16 tháng 7 nữa.

Nghĩa là ngày Đức Mẹ hiện ra lập dòng Carmêlô phải không?

Không phải như vậy. Cần phải tách rời hai biến cố ra. Dòng Carmêlô được thành lập tại đất thánh vào thế kỷ XII và được Toà Thánh châu phê vào thế kỷ XIII. Còn hiện tượng trao áo phép thì diễn ra vào thế kỷ XIII, cho Thánh Simon Stock. Tuy nhiên, gần đây các sử gia nhận thấy rằng cần phải phân biệt hai giai đoạn khác nhau trong việc Đức Mẹ trao áo và những lời hứa kèm theo. Một đàng là thị kiến của Thánh Simon Stock bề trên tổng quyền dòng Carmêlô ngày 16/7/1251, trong đó Đức Mẹ hứa sẽ gìn giữ những ai mặc áo cả đêm cả ngày thì sẽ được gìn giữ khỏi sa hỏa ngục: ai mà mặc áo này thì sẽ không phải rơi vào lửa đời đời. Xem ra đặc ân chỉ dành cho các tu sĩ của Dòng Carmêlô mà thôi. Một đàng khác là đặc ân hứa với Đức Hồng Y Giacôbê Déuse, về sau làm giáo hoàng hiệu là Gioan XXII. Đức Mẹ hứa sẽ mau mắn cứu khỏi luyện ngục vào ngày thứ bảy liền sau khi qua đời; nhưng Đức Mẹ đòi hỏi rằng ngoài việc mang áo dòng còn phải giữ khiết tịnh theo bậc của mình; đọc kinh nhật khóa, kiêng thịt ngày thứ tư và thứ bảy. Đây gọi là đặc ân “thứ bảy” (privilegium sabbatinum), dành không những cho các tu sĩ của Dòng mà còn cho những ai liên kết với Dòng qua việc lãnh áo của dòng nữa. Tiến thêm một bước nữa, các sử gia cho thấy rằng cả hai chuyện đều là bịa hết. Bởi vì cái thị kiến dành cho Thánh Simon Stock được ghi lại trong một thủ bản viết vào giữa thế kỷ XIV, nghĩa là 100 năm sau khi thánh nhân qua đời; thậm chí Luđôvicô Saggi đã đặt nghi vấn không biết Simon Stock có phải là một nhân vật lịch sử hay không nữa: người ta gán ghép tên của một tu sĩ Simon người nước Anh với một bề trên tổng quyền tên là Stock. Còn thị kiến dành cho đức Gioan XXII lại càng bịa hơn nữa, bởi vì nó ra đời 150 năm sau khi biến cố xảy ra!

Áo Đức Mẹ có còn công hiệu gì nữa hay không?

Có lẽ có người sẽ bàng hoàng khi nghe những điều vừa nói. Thiết tưởng không có chi mà phải bàng hoàng cả. Những chuyện tích Mẹ hiện ra như vậy thuộc về một thời đại mà người ta thích chuyện phép lạ với thánh tích. Nhưng ngày nay, người ta nhận thấy cần phải vượt qua cái não trạng đó. Chúng ta lãnh áo Đức Mẹ không phải để mong Mẹ cứu ta cho khỏi luyện ngục giống như kiểu đóng tiền cọc ở ngân hàng rồi tới một lúc nào đó thì đòi tiền lời. Thiết tưởng cần phải đặt lại vấn đề cho đúng chỗ. Khi một người xin lãnh áo Đức Mẹ Carmêlô thì người ấy muốn chia sẻ tinh thần của Dòng Carmêlô, nổi bật về lòng kính mến Đức Mẹ, cũng như về đời sống khiêm nhường ẩn dật. Khi lãnh chiếc áo đó, người tín hữu dâng mình cho Đức Mẹ để xin người giúp ta giữ gìn toàn vẹn tấm áo trắng mà đã lãnh nhận ngày chịu phép rửa tội. Kinh nguyện mà chủ tế đọc khi làm phép áo nhấn mạnh tới ý tưởng đó: tấm áo này diễn tả ước nguyện của người mang nó muốn chia sẻ tinh thần của Dòng. Ý định này lặp lại quyết tâm của chúng ta khi rửa tội là mặc lấy Chúa Kitô nhờ Mẹ Maria giúp đỡ; thực vậy Mẹ rất mong muốn cho ta được trở nên giống Chúa Kitô ngõ hầu làm sáng danh Thiên Chúa Ba ngôi, cho tới ngày chúng ta được vào nước trời, lộng lẫy trong chiếc áo cưới.

Giả như Đức Mẹ không có hiện ra ban áo dòng Carmêlô, thì ngày 16 tháng 7 chúng ta mừng kính cái gì?

Chúng ta không kính việc Đức Mẹ hiện ra ban áo dòng, nhưng mà chúng ta kính Đức Mẹ núi Carmêlô, một tước hiệu của Dòng Carmêlô. Linh đạo của Dòng này chú trọng tới Đức Mẹ như mẫu gương của đời chiêm niệm (trong nhiều tôn giáo, núi cao là nơi dễ nhấc lòng lên cùng Chúa, nơi gặp gỡ Chúa); kinh nguyện phụng vụ ngày lễ cũng xin nhờ Mẹ Maria dẫn dắt chúng ta lên tới Đức Kitô là ngọn núi thánh. Thánh Gioan thánh giá, một tiến sĩ của Dòng, đã viết một quyển sách mô tả con đường tiến lên đường trọn lành với tựa đề “Leo lên núi Carmêlô”. Nói cách khác Dòng Carmêlô kính Đức Maria như là mẫu gương và cô giáo dạy ta biết kết hợp với Chúa. Thiết tưởng cũng có thể ví việc kính Đức Mẹ núi Carmêlô với việc kính Đức Mẹ Mân Côi. Có một thời mà người ta thích nhấn mạnh đến chuyện Đức Mẹ hiện ra trao tràng chuỗi cho Thánh Đaminh, hoặc hứa hẹn bao nhiêu điều cho người nào lần chuỗi. Nhưng ngày nay chúng ta cần vượt qua cái tâm trạng hiếu kỳ và phần nào kinh doanh thương mại đó, để chú trọng tới ý nghĩa thâm sâu của nó: đó là chúng ta cùng với Đức Maria chiêm ngắm những mầu nhiệm căn bản của Kitô Giáo, mầu nhiệm Nhập thể, Thập giá và Phục Sinh của Chúa Kitô.