HIỂU ĐỂ SỐNG ĐỨC TIN

Ý NGHĨA CỦA VIỆC DÂNG MÌNH CHO ĐỨC MẸ

Lm. Phan Tấn Thành, O.P.

Tháng Năm thường được dành kính Đức Maria, việc dâng mình cho Mẹ, một tập tục được phổ biến tại nhiều nơi ở Việt Nam như một hình thức tôn kính người. Dâng mình cho Đức Mẹ để làm gì?

Trước khi trả lời câu hỏi, tôi muốn biết người dâng mình đã dùng công thức nào. Thực vậy, trải qua lịch sử, không những đã có những bản kinh khác nhau để dâng mình cho Đức Mẹ, nhưng còn có những quan niệm khác nhau về việc dâng mình ấy. Chắc chắn không có ai nói cụt lủn: “Mẹ ơi, hôm nay, con dâng mình con cho Mẹ. Chấm hết”. Nhưng trước đó, người ta thường viện dẫn lý do gì đưa tới việc dâng mình, nội dung bao hàm những điều cam kết gì, cũng như là kèm theo những điều dốc lòng cụ thể nào không.

Như vậy, có nhiều thứ dâng mình cho Đức Mẹ hay sao?

Nhiều lắm. Chúng ta có thể lượt qua những mẫu chính. Lúc đầu, vào khoảng cuối thế kỷ IV, chúng ta đã đọc thấy những bài giảng của các giáo phụ (tựa như Ambrôsiô và Grêgôriô Nissênô) khuyên các trinh nữ hãy nhìn ngắm Đức Maria như mẫu gương của sự tận hiến cho Thiên Chúa. Sang đến thế kỷ VII, thì ta thấy Thánh Ildefonsus giám mục Tolêđô bên Tây-ban-nha dùng công thức “đầy tớ của nữ tì Thiên Chúa” trong một bản kinh hướng về Mẹ Maria. Theo thánh nhân, Đức Maria là mẫu gương của sự phục vụ Đức Kitô, vì vậy trở nên bà hoàng của những người nữ tì của Chúa. Bởi thế, Ildefonsus muốn đến làm đầy tớ của Mẹ, để học hỏi cách thức phục vụ Chúa Kitô. Sự làm đầy tớ Đức Maria hệ tại sự yêu mến, cao rao và vâng phục những mệnh lệnh của bà chủ. Sang thế kỷ VIII, Thánh Gioan Damascênô dùng công thức “dâng hiến tinh thần, linh hồn, thể xác và toàn thân” cho Mẹ. Dù sao, trong thời các giáo phụ, ta có thể nói được rằng việc dâng mình cho Đức Mẹ mang tính cách thiêng liêng, dựa trên ý thức vai trò của người trong đời sống thiêng liêng, xét vì người là tấm gương của sự tận hiến cho Chúa. – Qua thời Trung Cổ, thì hình ảnh thay đổi. Âu Châu thời đó sống dưới chế độ vương hầu phong kiến. Nhiều người đến xin làm thần dân của các lãnh chúa để nhờ họ bênh vực bàu chủ. Khuôn mẫu ấy cũng ảnh hưởng đến đời sống tôn giáo của thời đại nữa. Tỉ dụ như nhiều dòng tu lấy hình thức đó để diễn tả việc khấn dòng, theo nghĩa là đan sĩ tới xin làm thần dân của tu viện, thề sống chết phục vụ cho tu viện, và đổi lại mong được tu viện chở che. Ta có thể nhận thấy tâm trạng tương tự trong vấn đề dâng mình cho Đức Mẹ, tuy dưới những dạng khác nhau. Một dạng là “phó thác, gửi gắm”, tựa như những cha mẹ ký thác đứa con mình cho người nào đó để nhờ dạy dỗ coi sóc. Dựa theo gương Chúa Giêsu đã ký thác Gioan cho Đức Mẹ coi sóc, một số người cũng chạy đến ký thác mình cho Mẹ, nhờ Mẹ chỉ bảo cho biết đường nên lành nên thánh. – Một dạng khác là “xin làm tôi”, cũng như các thần dân đến xin làm tôi một lãnh chúa, nghĩa là thề hứa sẽ hiến thân phục vụ tuyệt đối, trung thành cho đến chết; và đổi lại, mong được hưởng sự che chở. Một dạng khác nữa là lễ nghi tuyên thệ của các hiệp sĩ hay nghĩa sĩ. Như ta đã biết, thời ấy có những thanh niên được tuyển mộ làm hiệp sĩ phục vụ lãnh chúa, cũng như có những chàng trai si tình muốn dâng cả con tim để đi phò tá các tiểu thư; một cách tương tự như vậy, có những tín hữu muốn trở thành hiệp sĩ đi phục vụ Đức Maria, trinh nữ kiều diễm, kiệt tác của Thiên Chúa.

Đó là những chuyện phong kiến thời Trung Cổ, chứ ngày nay đâu còn nữa, phải không?

Không hẳn như vậy; xem ra một số danh xưng khi gọi Đức Maria còn phảng phất thời đại ấy, thí dụ như: Đức Bà, Bà Chủ (Notre Dame, Nostra Signora, Domina). Dù sao thì trong thời cận đại, ta có thể ghi nhận bốn dạng chính về việc dâng mình cho Đức Mẹ như sau.

Thứ nhất, các hiệp hội Thánh Mẫu do các cha Dòng Tên lập từ thế kỷ XVI. Lúc đầu, công thức mà tân hội viên đọc khi gia nhận hội là “oblatio”, muốn thuộc trọn cho Đức Maria, nhìn nhận người như là “Bà Chúa”, trao phó bản thân cho người, hết mọi hành vi trong ngoài, hiện tại và tương lai. Vào đầu thế kỷ này, năm 1910, chữ “oblatio” được đổi thành “consecratio” (dâng hiến); thế nhưng, sau công đồng Vaticano II, tiếng “consecratio” bị loại bởi vì thần học muốn dành tiếng này cho Thiên Chúa mà thôi; bởi thế, thay vì nói “tận hiến” cho Mẹ, thì người ta nói tới “tình con thảo đối với Trinh Nữ Maria”, coi người như mẫu gương của sự hợp tác với sứ mạng của Đức Kitô; vì thế chúng ta muốn kết hiệp với người để sống sự dâng hiến toàn thân cho Thiên Chúa.

Dạng thứ hai của Thánh Gioan Eudes (thế kỷ XVII), trình bày sự dâng hiến như là giao ước. Khởi điểm từ bí tích rửa tội, nơi mà Thiên Chúa với con người ký kết giao ước, hai bên sẽ trao ban cho nhau (cách riêng con người trao hiến mình cho Thiên Chúa bằng việc khước từ ma quỷ và gắn bó với Đức Kitô); Thánh Gioan Eudes cũng coi việc dâng mình cho Đức Mẹ như là một giao ước, hay đôi khi còn gọi là hôn ước (nghĩa là khế ước hôn nhân), trong đó con người cũng trao hiến mình cách tương tự như vậy.

Dạng thứ ba của Thánh Louis Marie Grignon de Montfort, trình bày trong cuốn sách “Thành thực sùng kính Đức Maria” xuất bản năm 1843. Theo thánh nhân, sự tận hiến trọn hảo phải dành cho Đức Kitô qua những lời cam kết lúc lãnh nhận bí tích rửa tội. Thế nhưng những lời cam kết ấy cần được lặp lại nhiều lần, xét vì thường tình chúng ta dễ quên lãng vì thờ ơ. Sự dâng mình cho Đức Maria là một phương thức để lặp lại các lời cam kết đó: nhờ việc dâng mình cho Mẹ để sống đời tận hiến cho Đức Kitô cách hoàn hảo hơn.

Dạng thứ bốn, của Thánh Maximiliano Kolbe. Người cũng dùng những từ ngữ “tôi tớ, con thảo” trong công thức dâng mình, nhưng đặc biệt nhấn mạnh đến tước hiệu Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, cũng như đến chiều kích tông đồ truyền giáo của việc dâng hiến, nghĩa là để cho Mẹ Vô Nhiễm khải thắng trên toàn thế giới. Ngoài 4 dạng kể trên, chắc chắn còn nhiều dạng khác, tỉ như có nơi nhấn mạnh đến Mẫu Tâm Đức Maria và nhấn mạnh đến khía cạnh đền tạ, hoạ theo việc dâng mình cho Trái Tim Chúa Giêsu. Thêm vào đó, cũng phải kể đến việc dâng hiến một cộng đồng giáo xứ, giáo phận, quốc gia, thế giới cho Đức Mẹ, được thực hiện nhiều lần do Đức Gioan Phaolô II. Nên lưu ý là ĐTC dùng nhiều từ ngữ khác nhau: “ký thác, gửi gắm, trao phó, đặt trong tay, cam kết, dâng hiến...”, thường là dựa trên lời Chúa Giêsu ký thác môn đệ yêu dấu cho Đức Maria.

Có thể coi những dạng thức khác nhau trong việc dâng mình cho Đức Maria như là những khuôn mẫu cam kết khác nhau, để tùy mỗi người tín hữu cân nhắc lựa chọn tùy theo khả năng của mình hay không?

Tôi nghĩ có thể quan niệm như vậy. Tuy rằng tất cả chúng ta đều được kêu mời đến một mục tiêu chung là nên thánh, nhưng những phương thế để nên thánh thì rất nhiều và đa dạng, hay nói theo danh từ chuyên môn: có nhiều linh đạo khác nhau.- Tuy nhiên trong vấn đề dâng mình cho Đức Maria, tôi nghĩ rằng những dạng thức khác nhau nhiều lần phản ánh quan niệm thuộc các thời đại khác nhau về vai trò của người trong đời sống đạo của chúng ta. Thường thì các công thức dâng mình đều nói tới dâng trót mình, nghĩa là dâng hết tâm tình ước muốn, hành vi, chứ không phải chỉ dâng một phần nào của con người. Thậm chí có những công thức tự đặt mình ngang hàng với nô lệ, tôi đòi, hoàn toàn dưới sự điều động sai khiến của bà chủ. Những tư tưởng ấy chắc không tránh khỏi ảnh hưởng văn hóa và thần học của một thời đại lịch sử. Như trên đã nói, nhiều công thức hiến dâng ra đời vào hồi Trung Cổ, lấy khuôn mẫu từ xã hội lãnh chúa phong kiến ở Âu Châu. Mặt khác, một số công thức hiến dâng ra đời vào lúc mà ra như tất cả trung tâm của đời sống đạo đức là Đức Maria chứ không phải là Đức Kitô. Đức Kitô xem ra quá cao vời, ngự trên chín tầng mây, và chỉ xuất hiện trong ngày quang lâm như thẩm phán công thẳng. – Từ công đồng Vaticano II, thần học đã muốn duyệt lại một số hình ảnh lệch lạc đó; chính vì vậy, mà như ta đã thấy trên đây, các Hiệp Hội Thánh Mẫu đã bỏ tiếng “thánh hiến” (consecratio) cho Đức Mẹ, và thay vào đó bằng từ ngữ “tình con thảo” đối với người.

Tại sao có sự thay đổi ấy?

Vì nhiều lý do. Trước hết, trên nguyên tắc, con người đã được Thiên Chúa ban cho khả năng tự do chọn lựa, quyết định, để theo Người hay chống lại Người. Tuy nhiên, chúng ta cũng biết rằng cho dù khi con người chống đối Thiên Chúa đi nữa, thì không vì thế mà nó trở thành độc lập, vô chủ. Con người luôn luôn là một thụ tạo, lệ thuộc vào Thiên Chúa. Cách riêng, chúng ta, người tín hữu Kitô, chúng ta đã muốn thuộc về Chúa qua lời cam kết khi chịu phép rửa tội. Chúng ta không còn phải là đồ vô chủ nữa. Chúng ta đã hứa sẽ sống cho Chúa, sống theo mẫu gương của Đức Kitô, sống để phục vụ Chúa. Nói khác đi, chúng ta không còn thuộc về chúng ta hay thuộc về ai khác nữa, nhưng chúng ta đã thuộc trọn về Chúa, đã tận hiến cho Chúa rồi. Chính vì vậy mà công thức “tận hiến cho Mẹ Maria” không chỉnh, không những tại vì chúng ta đã tận hiến cho Chúa rồi, nhưng còn vì lẽ duy có Thiên Chúa, Đấng Chủ tể vạn vật, mới có quyền chiếm hữu tất cả lý trí, ý chí, hành vi, đời sống của chúng ta mà thôi.

Hiểu như vậy, việc dâng mình cho Đức Maria mang một ý nghĩa khác. Việc dâng minh cho Đức Mẹ, theo như Thánh Louis Montfort nói, là dịp để ta nhắc nhớ lại những lời cam kết với Đức Kitô lúc rửa tội. Chúng ta nhìn lên người như mẫu gương của một tín hữu đã sống trọn vẹn cho Chúa Kitô, hay nói như các giáo phụ, mẫu gương của đời tận hiến cho Thiên Chúa. Mặt khác, dựa vào lời ký thác của Đức Kitô trên thập giá, chúng ta muốn bắt chước Thánh Gioan rước Đức Maria về nhà mình, chia sẻ cuộc sống với mình, đặc biệt chia sẻ con đường theo Chúa Kitô trong việc phụng sự Thiên Chúa và tha nhân. Đó là lý do vì sao Đức Gioan Phaolo 2 thích dùng những từ ngữ “gửi gắm, ký thác, trao phó, tiếp đón”: nó dựa trên đoạn văn Phúc Âm Thánh Gioan, và nó muốn nói lên tình nghĩa mẹ con thân thiết hơn.